Alexander Manninger
|
Manninger thi đấu cho Juventus vào năm 2010 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Alexander Manninger[1] | ||
| Ngày sinh | 4 tháng 6 năm 1977 | ||
| Nơi sinh | Salzburg, Áo | ||
| Ngày mất | 16 tháng 4 năm 2026 (48 tuổi) | ||
| Nơi mất | Nußdorf am Haunsberg, Salzburg, Áo | ||
| Chiều cao | 1,89 m (6 ft 2 in)[chuyển đổi: số không hợp lệ][2] | ||
| Vị trí | Thủ môn | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| 1984–1995 | SV Salzburg | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 1995–1996 | SV Salzburg | 1 | (0) |
| 1995 | → Vorwärts Steyr (cho mượn) | 5 | (0) |
| 1996–1997 | Grazer AK | 23 | (0) |
| 1997–2002 | Arsenal | 39 | (0) |
| 2001–2002 | → Fiorentina (cho mượn) | 24 | (0) |
| 2002 | Espanyol | 0 | (0) |
| 2003 | Torino | 3 | (0) |
| 2003–2005 | Bologna | 0 | (0) |
| 2004–2005 | → Siena (cho mượn) | 19 | (0) |
| 2005–2006 | Red Bull Salzburg | 16 | (0) |
| 2006–2008 | Siena | 64 | (0) |
| 2008 | Red Bull Salzburg | 0 | (0) |
| 2008 | Udinese | 0 | (0) |
| 2008–2012 | Juventus | 27 | (0) |
| 2012–2016 | FC Augsburg | 36 | (0) |
| 2013 | → FC Augsburg II | 1 | (0) |
| 2016–2017 | Liverpool | 0 | (0) |
| Tổng cộng | 258 | (0) | |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 1999–2009 | Áo | 33 | (0) |
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia | |||
Alexander Manninger (4 tháng 6 năm 1977 – 16 tháng 4 năm 2026) là một cựu cầu thủ bóng đá người Áo thi đấu ở vị trí thủ môn. Ông từng 33 lần khoác áo đội tuyển quốc gia Áo, bao gồm tại UEFA Euro 2008, đồng thời thi đấu cho nhiều câu lạc bộ tại Ý, Đức, Áo và Anh.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Salzburg, Steyr và Grazer AK
Manninger bắt đầu sự nghiệp với tư cách là cầu thủ trẻ của SV Salzburg vào năm 1993. Ông được đôn lên đội một vào đầu mùa giải 1995–96. Sau trận ra mắt và cũng là lần ra sân duy nhất trong mùa giải đó, ông được đem cho mượn tại Vorwärts Steyr, và có trận đấu đầu tiên ở giải đấu hàng đầu trên sân khách trước Grazer AK.
Vào đầu mùa giải 1996–97, ông ký hợp đồng với Grazer AK, có trận ra mắt trong trận đấu lượt đi vòng hai Cúp UEFA gặp Inter Milan tại Stadio Giuseppe Meazza ở Milan.[cần dẫn nguồn] Ông đã có 24 lần ra sân trong mùa giải duy nhất tại Grazer AK trước khi có bước ngoặt lớn chuyển sang thi đấu cho Arsenal tại giải Ngoại hạng Anh, nơi ông làm phương án dự phòng cho thủ môn giàu kinh nghiệm David Seaman.
Arsenal, Fiorentina và Espanyol
Trong mùa giải 1997–98, Seaman gặp chấn thương và Manninger đã đóng thế thành công, sở hữu chuỗi 6 trận liên tiếp giữ sạch lưới tại giải VĐQG — cân bằng kỷ lục câu lạc bộ. Trận đấu cuối cùng trong chuỗi trận này là cuộc đối đầu với Manchester United tại Old Trafford, nơi Arsenal giành chiến thắng 1–0. Vào tháng 3 năm 1998, ông được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của Giải Ngoại hạng Anh.[3] Dù vậy, Manninger vẫn phải nhường vị trí cho Seaman khi thủ môn người Anh bình phục. Mặc dù chỉ chơi 7 trận tại mùa giải Premier League 1997–98 (quy định thời điểm đó cần tối thiểu 10 trận để đủ điều kiện nhận huy chương vô địch), Manninger vẫn được đặc cách trao huy chương vì những đóng góp quan trọng cho chức vô địch của Arsenal. Ông cũng có 5 lần ra sân trong hành trình chinh phục Cúp FA của đội bóng. Dấu ấn lớn nhất của Manninger diễn ra ở trận đá lại tứ kết gặp West Ham United. Trận đấu phải phân định trên chấm luân lưu và ông đã cản phá thành công cú sút của Eyal Berkovic để giúp Arsenal tiến vào bán kết.[4] Ông có tên trên băng ghế dự bị khi Arsenal giành chiến thắng trong trận chung kết Cúp FA 1998 để hoàn tất cú đúp danh hiệu.
Manninger tiếp tục làm thủ môn dự bị cho Seaman trong ba mùa giải tiếp theo. Ông đã có tổng cộng 64 lần ra sân trong 4 mùa giải thi đấu cho Arsenal. Sau khi Pháo thủ chiêu mộ Richard Wright vào năm 2001,[3] Manninger trở thành sự lựa chọn thứ ba tại Arsenal và trải qua mùa giải 2001–02 dưới dạng cho mượn tại câu lạc bộ Ý Fiorentina, nơi ông có 24 lần ra sân cho đội bóng xứ Tuscany.[5]
Tháng 7 năm 2002, Espanyol ký hợp đồng 4 năm với Manninger với mức phí 960.000 bảng Anh.[6] Tuy nhiên, ông đã bị chấm dứt hợp đồng chỉ sau 2 tháng mà chưa thi đấu trận nào cho đội một, Manninger tuyên bố rằng đội bóng xứ Barcelona đã thất hứa và không tôn trọng hợp đồng.[7][8]
Torino, Bologna, Siena và Salzburg
Manninger sau đó gia nhập đội bóng Ý Torino tại Serie A vào tháng 1 năm 2003,[9] và gắn bó cho đến cuối mùa giải. Đầu mùa giải 2003–04, ông ký hợp đồng với Bologna, nơi ông đóng vai trò dự bị trong hai mùa giải. Ông có một thời gian ngắn chuyển sang Brescia theo dạng cho mượn vào tháng 7 năm 2004, nhưng sau đó tiếp tục được cho mượn tới Siena trong mùa giải Serie A 2004–05, thời điểm ông có 19 lần ra sân tại giải VĐQG cho đội bóng.
Vào tháng 7 năm 2005, Red Bull Salzburg tái ký hợp đồng với Manninger từ câu lạc bộ chủ quản Bologna, và trong mùa giải 2005–06, ông đã ra sân 16 trận.
Trở lại Siena, Udinese và Juventus
Manninger trở lại Siena tại Serie A, lần này là một bản hợp đồng mua đứt cho mùa giải 2006–07. Ông bắt đầu mùa giải với tư cách là sự lựa chọn số một của câu lạc bộ, nhưng sau đó gặp chấn thương và bị thay thế bởi tuyển thủ quốc gia Ý/Hy Lạp Dimitrios Eleftheropoulos — người giữ suất bắt chính ngay cả khi Manninger bình phục. Ông lấy lại vị trí bắt chính vào đầu mùa giải 2007–08, vượt qua Eleftheropoulos và Anssi Jaakkola. Trong hai năm gắn bó với Siena, Manninger đã ra sân gần 70 trận.
Vào tháng 7 năm 2008, với tư cách cầu thủ tự do, ông trở lại Áo để thi đấu một thời gian ngắn cho Red Bull Salzburg. Nhưng trước khi mùa giải bắt đầu, ông đã ký hợp đồng với Udinese để thế vị trí của Antonio Chimenti (người chuyển sang Juventus). Tuy nhiên, trong sự nghiệp với nhiều thương vụ chuyển nhượng chóng khánh, ông chỉ ở lại câu lạc bộ đông bắc nước Ý trong hai tuần trước khi được Juventus chiêu mộ làm thủ môn dự bị cho Gianluigi Buffon và Chimenti vào tháng 8 năm 2008.[10] Chấn thương dài hạn của Buffon đã giúp Manninger bắt chính cho đội hình một từ đầu tháng 10 năm 2008 đến cuối tháng 2 năm 2009. Trong khoảng thời gian khoác áo Juventus, Manninger có 35 lần ra sân trên mọi đấu trường và nhận được nhiều lời khen ngợi từ truyền thông. Sau chấn thương của Buffon tại World Cup 2010, Juventus đã chiêu mộ Marco Storari từ AC Milan vào mùa hè năm 2010, khiến Manninger bị đẩy xuống làm thủ môn lựa chọn thứ ba.[11][12][13] Ông rời câu lạc bộ vào cuối mùa giải 2011–12 sau khi Juventus giành chức vô địch Serie A.[14]
Augsburg
Sau 4 tháng không có câu lạc bộ, Manninger ký hợp đồng với đội bóng tại Bundesliga là FC Augsburg để thay thế cho thủ môn chính Simon Jentzsch bị chấn thương.[14] Ông ra mắt chính thức cho Augsburg trong trận đấu tại DFB-Pokal trên sân nhà gặp Bayern Munich vào ngày 18 tháng 12 năm 2012. Năm 2014, ông ký gia hạn hợp đồng thêm một năm[15] và hết hạn hợp đồng vào tháng 6 năm 2016 sau khi có 38 lần ra sân trên mọi đấu trường cho đội bóng nước Đức, 36 trận trong số đó là tại Bundesliga.[16][17]
Liverpool
Vào tháng 7 năm 2016, Manninger tập luyện nhờ tại Liverpool để duy trì thể lực và đến ngày 22 tháng 7 năm 2016, ông đã ký hợp đồng ngắn hạn với đội chủ sân Anfield và ra sân 2 lần trong các trận giao hữu tiền mùa giải.[18] Vào ngày 25 tháng 5 năm 2017, ông tuyên bố giải nghệ sau khi hợp đồng kết thúc.[19]
Sự nghiệp quốc tế
Manninger ra mắt đội tuyển quốc gia Áo vào tháng 8 năm 1999 trong trận giao hữu với Thụy Điển và là thành viên của đội tuyển Áo tham dự UEFA Euro 2008. Ông có 33 lần khoác áo đội tuyển và tuyên bố giã từ sự nghiệp quốc tế sau 10 năm cống hiến vào ngày 5 tháng 8 năm 2009.
Phong cách thi đấu
Manninger đặc biệt nổi tiếng với khả năng cản phá cú sút, sự ổn định, khả năng bắt dính bóng và chọn vị trí tốt, mặc dù ông bớt hiệu quả hơn khi lao ra cản phá các quả tạt bổng.[20] Ở giai đoạn đầu sự nghiệp, ông được đánh giá là một thủ môn dự bị chất lượng, nhưng đôi khi bị các nhà chuyên môn chỉ trích là thiếu bản lĩnh chịu áp lực cần thiết để duy trì vị trí bắt chính lâu dài.[21] Bên cạnh đó, ông luôn nổi bật bởi thái độ làm việc chuyên nghiệp.[14]
Đời tư và qua đời
Trước khi theo đuổi sự nghiệp bóng đá, Manninger từng là một thợ mộc. Sau khi giải nghệ, ông tập trung vào công việc kinh doanh đồ nội thất và bất động sản.[22] Trong số các dự án bất động sản của mình, ông nắm giữ cổ phần đáng kể tại Meininger Hotels, một công ty con của Holidaybreak.[cần dẫn nguồn] Manninger đã kết hôn và có hai con trai.[23]
Sáng ngày 16 tháng 4 năm 2026, Manninger đang lái xe một mình thì bị một đoàn tàu chở khách đâm phải tại đoạn đường ngang không có rào chắn ở Nußdorf am Haunsberg, gần Salzburg.[24][25] Ông sống sót sau va chạm nhưng đã qua đời vì chấn thương quá nặng ngay sau khi nhân viên y tế đến hiện trường.[26]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải quốc gia | Cúp quốc gia[a] | Cúp liên đoàn[b] | Châu châu | Khác | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| SV Salzburg | 1995–96 | VĐQG Áo | 1 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 1 | 0 | |||
| Vorwärts Steyr (cho mượn) | 1995–96 | VĐQG Áo | 5 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 5 | 0 | |||
| Grazer AK | 1996–97 | VĐQG Áo | 23 | 0 | 0 | 0 | — | 0 | 0 | — | 23 | 0 | ||
| Arsenal | 1997–98 | Ngoại hạng Anh | 7 | 0 | 5 | 0 | 4 | 0 | 0 | 0 | — | 16 | 0 | |
| 1998–99 | Ngoại hạng Anh | 6 | 0 | 2 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 10 | 0 | |
| 1999–2000 | Ngoại hạng Anh | 15 | 0 | 1 | 0 | 1 | 0 | 6[c] | 0 | 1[d] | 0 | 24 | 0 | |
| 2000–01 | Ngoại hạng Anh | 11 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 2[e] | 0 | — | 14 | 0 | ||
| Tổng cộng | 39 | 0 | 9 | 0 | 7 | 0 | 8 | 0 | 1 | 0 | 64 | 0 | ||
| Fiorentina (cho mượn) | 2001–02 | Serie A | 24 | 0 | 0 | 0 | — | 6[f] | 0 | 0 | 0 | 30 | 0 | |
| Torino | 2002–03 | Serie A | 3 | 0 | — | — | — | — | 3 | 0 | ||||
| Bologna | 2003–04 | Serie A | 0 | 0 | 4 | 0 | — | — | — | 4 | 0 | |||
| Siena (cho mượn) | 2004–05 | Serie A | 19 | 0 | 2 | 0 | — | — | — | 21 | 0 | |||
| Red Bull Salzburg | 2005–06 | VĐQG Áo | 16 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 16 | 0 | |||
| Siena | 2006–07 | Serie A | 38 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 38 | 0 | |||
| 2007–08 | Serie A | 26 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 26 | 0 | ||||
| Tổng cộng | 64 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 64 | 0 | |||||
| Juventus | 2008–09 | Serie A | 16 | 0 | 0 | 0 | — | 5[e] | 0 | — | 21 | 0 | ||
| 2009–10 | Serie A | 11 | 0 | 1 | 0 | — | 2[g] | 0 | — | 14 | 0 | |||
| 2010–11 | Serie A | 0 | 0 | 0 | 0 | — | 5[g] | 0 | — | 5 | 0 | |||
| 2011–12 | Serie A | 0 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 0 | 0 | ||||
| Tổng cộng | 27 | 0 | 1 | 0 | — | 12 | 0 | — | 40 | 0 | ||||
| FC Augsburg | 2012–13 | Bundesliga | 12 | 0 | 1 | 0 | — | — | — | 13 | 0 | |||
| 2013–14 | Bundesliga | 13 | 0 | 1 | 0 | — | — | — | 14 | 0 | ||||
| 2014–15 | Bundesliga | 9 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 9 | 0 | ||||
| 2015–16 | Bundesliga | 2 | 0 | 0 | 0 | — | 0 | 0 | — | 2 | 0 | |||
| Tổng cộng | 36 | 0 | 2 | 0 | — | 0 | 0 | — | 38 | 0 | ||||
| Liverpool | 2016–17 | Ngoại hạng Anh | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | — | 0 | 0 | |
| Tổng cộng sự nghiệp | 257 | 0 | 18 | 0 | 7 | 0 | 26 | 0 | 1 | 0 | 309 | 0 | ||
- ^ Bao gồm Cúp FA, Coppa Italia, DFB-Pokal
- ^ Bao gồm Cúp Liên đoàn Anh
- ^ 4 trận tại UEFA Champions League, 2 trận tại Cúp UEFA
- ^ Ra sân tại Siêu cúp Anh (Community Shield)
- ^ a b Ra sân tại UEFA Champions League
- ^ Ra sân tại Cúp UEFA
- ^ a b Ra sân tại UEFA Europa League
Quốc tế
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Áo | 1999 | 3 | 0 |
| 2000 | 2 | 0 | |
| 2001 | 3 | 0 | |
| 2002 | 6 | 0 | |
| 2004 | 4 | 0 | |
| 2006 | 1 | 0 | |
| 2007 | 6 | 0 | |
| 2008 | 7 | 0 | |
| 2009 | 1 | 0 | |
| Tổng cộng | 33 | 0 | |
Danh hiệu
Arsenal
Juventus
Cá nhân
Tài liệu tham khảo
- ^ "Squads for 2016/17 Premier League confirmed". Premier League. ngày 1 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2016.
- ^ a b c "Alexander Manninger: Overview". Premier League. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2018.
- ^ a b "A complete history of goalkeeping at Arsene Wenger's Arsenal". sport.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2012.
- ^ "West Ham 1 Arsenal 1 (aet, 3-4 on penalties)". Sporting Life. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2013.
- ^ "Manninger completes Fiorentina switch". BBC Sport. ngày 7 tháng 8 năm 2001. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008.
- ^ "Manninger joins Espanyol". BBC Sport. ngày 4 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008.
- ^ "Espanyol release Manninger". BBC Sport. ngày 23 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008.
- ^ Kendall, Mark. "Alex breaks silence on Espanyol fiasco". Sky Sports. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2013.
- ^ "Manninger joins Torino". BBC Sport. ngày 14 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008.
- ^ "Manninger swaps Udinese for Juve". UEFA. ngày 5 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2013.
- ^ Radaelli, Roberta (ngày 21 tháng 11 năm 2008). "Juve tranquilla nelle mani di Manninger" (bằng tiếng Ý). UEFA. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2020.
- ^ "Buffon return unknown". Sky Sports. ngày 15 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ Ormezzano, Timothy (ngày 5 tháng 7 năm 2010). "Buffon super, ma io non mi sento un vice". La Repubblica (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2017.
- ^ a b c "Manninger making up for lost time". Bundesliga. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2020.
- ^ "Manninger pens one-year Augsburg extension". FourFourTwo. ngày 24 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2020.
- ^ Price, Glenn (ngày 11 tháng 7 năm 2016). "Liverpool consider signing Manninger, Danny Ward joins Huddersfield on loan". ESPN FC. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2020.
- ^ Chaffer, Alex (ngày 17 tháng 8 năm 2016). "Weinzierl exit heralds new era for Augsburg". DW. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2020.
- ^ "Liverpool complete deal for Alex Manninger". liverpoolfc.com. Liverpool F.C. ngày 22 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Manninger set to retire: 'Keeper on career, LFC experience and future". liverpoolfc.com. Liverpool F.C. ngày 25 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2017.
- ^ Stefano Bedeschi (ngày 4 tháng 6 năm 2016). "Gli eroi in bianconero: Alex MANNINGER" (bằng tiếng Ý). Tutto Juve. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2016.
- ^ Ladyman, Ian (ngày 30 tháng 11 năm 2000). "Manninger: I'll prove I can cope". ESPN FC. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2020.
- ^ Husmukh Kerai (ngày 3 tháng 10 năm 2017). "Gianluigi Buffon wrote the book on how to be a top goalkeeper – Manninger". Squawka. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2017.
- ^ Di Gioia, Alessandro (ngày 22 tháng 4 năm 2026). "Manninger, lo straziante ricordo della moglie Emily: "Avevamo una vita perfecta"". www.calciomercato.com (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2026.
- ^ Jackson, Bobbie (ngày 16 tháng 4 năm 2026). "Alex Manninger: Ex-Arsenal goalkeeper dies after car hit by train". BBC Sport. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
- ^ Rumsby, Ben (ngày 16 tháng 4 năm 2026). "Former Arsenal and Liverpool goalkeeper Alex Manninger killed after car hit by train". The Telegraph (bằng tiếng Anh). ISSN 0307-1235. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
- ^ Schwerer Lokalbahn-Unfall in Nußdorf: Auto mehrer Meter mitgeschleift – Ex-ÖFB-Goalie Manninger tot (bằng tiếng Đức)
- ^ a b "Manninger, Alex". National-Football-Teams. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016.
- ^ a b c d "A. MANNINGER". Soccerway. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Alex Manninger". Soccerbase. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016.
Liên kết ngoài
- Alexander Manninger tại National-Football-Teams.com
- Alexander Manninger tại ESPN FC
- Alexander Manninger tại ÖFB (bằng tiếng Đức)
- Alexander Manninger trên IMDb
Content Disclaimer
Informasi ini disarikan dari Wikipedia dan disajikan kembali untuk tujuan edukasi. Konten tersedia di bawah lisensi CC BY-SA 3.0. Kami tidak bertanggung jawab atas ketidakakuratan data yang bersumber dari kontribusi publik tersebut.
- The information displayed on this website is sourced in part or in whole from Wikipedia and has been adapted for the purpose of restating it. We strive to provide accurate and relevant information, however:
- There is no guarantee of absolute accuracy. Wikipedia is an open, collaborative project that can be edited by anyone, so information is subject to change.
- It is not intended to constitute professional advice. The content displayed is for informational and educational purposes only. For important decisions (e.g., medical, legal, or financial), please consult a professional.
- Content copyright. Wikipedia is licensed under the Creative Commons Attribution-ShareAlike License (CC BY-SA). This means that content may be reused with appropriate attribution and shared under a similar license.
- Responsible use. Any risk arising from the use of information from this website is entirely the responsibility of the user.









