Peruzzi bắt đầu sự nghiệp Serie A với Roma vào năm 1987. Ông được cho Hellas Verona mượn vào năm 1989, nhưng là một trong hai cầu thủ Roma, người còn lại là Andrea Carnevale, bị treo giò một năm vào tháng 10 năm 1990 sau khi không vượt qua kiểm tra doping do dùng một loại thuốc ức chế cảm giác thèm ăn có chứa chất cấm Phentermine.[9]
Sau khi Gianluca Pagliuca, người được xem là đối thủ cạnh tranh cùng vị trí với Peruzzi trong sự nghiệp, rời Internazionale để đến Bologna vào năm 1999,[13] Peruzzi rời Juventus để gia nhập Inter vào năm 1999 với mức phí chuyển nhượng 28 tỉ lira (14,461 triệu euro),[14] cùng mức lương trước thuế được cho là 8 tỉ lira.[15] Peruzzi trải qua một mùa giải không thành công cùng câu lạc bộ – bất chấp các màn trình diễn xuất sắc của ông[16] – dưới thời huấn luyện viên cũ tại Juventus Marcello Lippi, kết thúc mùa giải quốc nội ở vị trí thứ tư và vào đến Chung kết Coppa Italia 2000.
Mùa giải tiếp theo, ông chuyển đến Lazio với giá 40 tỉ lira (20,658 triệu euro; trong một thương vụ tiền mặt cộng Marco Ballotta),[14][17] và có hơn 200 lần ra sân tại Serie A cũng như các giải đấu châu Âu cho câu lạc bộ, giành Supercoppa Italiana năm 2000 và Coppa Italia vào năm 2004. Ông tiếp tục thi đấu ở đẳng cấp rất cao, thường được xem là thủ môn Ý hay nhất sau Gianluigi Buffon.[18]
Mặc dù hợp đồng của ông với Biancocelesti kéo dài đến năm 2008, Peruzzi giải nghệ vào cuối mùa giải 2006–07: sau trận hòa 0–0 với Roma ngày 29 tháng 4 năm 2007, Peruzzi nói rằng ông đã thi đấu trận cuối cùng do sự mệt mỏi từ các chấn thương dai dẳng. Tuy nhiên, ông được tung vào sân trong những phút cuối ở trận sân nhà cuối cùng của Lazio trong mùa giải, trận hòa không bàn thắng trước Parma vào ngày 20 tháng 5, như một lời chia tay với các cổ động viên. Ông được vinh danh là Thủ môn xuất sắc nhất năm Serie A lần thứ ba trong sự nghiệp vào ngày 28 tháng 1 năm 2008.
Sau Giải vô địch bóng đá thế giới 1998, Maldini được thay thế bởi cựu thủ môn và người giữ kỷ lục của Ý Dino Zoff, người xác nhận Peruzzi là thủ môn lựa chọn số một trong năm đầu tiên ông dẫn dắt đội tuyển Ý; tuy nhiên, sau một trận đấu với Na Uy vào năm 1999, Gianluigi Buffon được trao vị trí bắt chính, trong khi Francesco Toldo trở thành phương án dự bị đầu tiên.[20] Bị hai đồng nghiệp vượt lên trong thứ tự lựa chọn, Peruzzi quyết định không tham dự Euro 2000 với tư cách thủ môn thứ ba,[21][22] một quyết định mà theo lời Zoff, đã khiến ông mất cơ hội có thể giành lại vị trí số một: do chấn thương vào phút chót khiến Buffon bị loại khỏi giải đấu, Peruzzi đã có thể là người bắt chính thay cho Toldo nếu ông chấp nhận lệnh triệu tập.[23]
Peruzzi không thi đấu cho Ý một lần nào nữa cho đến khi vào sân thay người trong một trận giao hữu gặp Tây Ban Nha vào ngày 28 tháng 4 năm 2004,[24] và sau đó được Giovanni Trapattoni triệu tập với vai trò thủ môn dự bị tại Euro 2004: lựa chọn của Trapattoni có vẻ bất thường, vì thủ môn lựa chọn thứ ba của Ý tại các kỳ Giải vô địch bóng đá thế giới và Giải vô địch châu Âu thường được chọn trong số các cầu thủ trẻ, giàu triển vọng;[25] thay vào đó, việc cùng lúc có hai thủ môn kỳ cựu như Peruzzi và Toldo làm dấy lên nghi ngờ về vai trò thực sự của họ phía sau Buffon, bởi không ai trong số họ dễ dàng chấp nhận một vai trò bên lề.[26]
Tháng 8 năm 2005, ông bắt chính trong hai trận vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới gặp Scotland và Belarus, khi Buffon phải nghỉ vì chấn thương vai; sau đó Peruzzi giữ vai trò thủ môn số hai, phía sau Buffon, tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 dưới thời Marcello Lippi,[27] khi Ý vô địch giải đấu lần thứ tư. Dù không ra sân, đồng đội Daniele De Rossi nhấn mạnh vai trò quan trọng của Peruzzi trong đội hình với tư cách một nhân vật chủ chốt trong phòng thay đồ, nhờ tố chất lãnh đạo và kinh nghiệm của ông.[28] Peruzzi giã từ sự nghiệp quốc tế sau giải đấu.[29]
Phong cách thi đấu
Là một thủ môn mạnh mẽ, giàu thể lực, toàn diện và ổn định – dù dễ gặp chấn thương[8][30] –, Peruzzi nổi tiếng nhờ sức mạnh thể chất, khả năng chọn vị trí, phản xạ bùng nổ, tốc độ và sự nhanh nhẹn, bất chấp vóc dáng chắc nịch của mình; ông đặc biệt xuất sắc trong việc nhanh chóng lao ra khỏi vạch vôi để cản phá hoặc thu bóng dưới mặt sân,[8][30][31] cũng như phán đoán trước ý đồ của đối phương ở ngoài khu vực cấm địa,[32] điều khiến ông đặc biệt hiệu quả trong các đội bóng dựa vào hệ thống phòng ngự kèm người khu vực với hàng thủ dâng cao.[33] Do chiều cao khiêm tốn đối với một thủ môn, 1,80 m, theo một số nguồn là 1,78 m, ông kém hiệu quả hơn trong việc lao ra bắt các quả tạt và thường thích đấm bóng ra hơn là cố gắng bắt dính,[34] mặc dù khả năng bắt bóng của ông nhìn chung đáng tin cậy.[32] Dù cực kỳ có năng khiếu cả về kỹ thuật lẫn khả năng nhào lộn,[35][36] ông là một thủ môn hiệu quả, chỉ thực hiện các pha bay người đẹp mắt khi thật sự cần thiết: ông tin rằng "một thủ môn vĩ đại phải đi ngang khung thành: bằng cách đó, anh ta làm nản lòng các tiền đạo đối phương, vì dường như anh ta cản phá các cú sút một cách không tốn sức".[37][38] Trong suốt sự nghiệp, ông cũng nổi bật nhờ khả năng tập trung và tạo ra những pha cứu thua quyết định ngay cả sau khi không phải hoạt động trong thời gian dài của một trận đấu;[11][39] ông cũng hiệu quả trong việc cản phá phạt đền,[40] dù không đặc biệt giỏi chơi bóng bằng chân và thường chọn phá bóng lên mỗi khi nhận đường chuyền về.[36][37][41]
Là một tài năng sớm nở khi còn trẻ,[30] ông được xem là một trong những thủ môn hay nhất thế giới ở thời kỳ đỉnh cao trong thập niên 1990,[10][11][12][42] đồng thời cũng nổi bật nhờ sự bền bỉ ở giai đoạn cuối sự nghiệp, điều giúp ông duy trì phong độ ổn định ở đẳng cấp cao.[28] Mặc dù nổi tiếng với cá tính, khả năng lãnh đạo từ tuyến dưới, tinh thần mạnh mẽ và sự tự tin mà ông truyền cho đồng đội trong suốt sự nghiệp, ngoài sân cỏ ông có tính cách khá tử tế, điềm tĩnh và kín đáo,[10][30][43][44] điều khiến ông rất được đồng đội yêu mến,[28][35][45][46] nhưng cũng khiến một số chuyên gia cho rằng ông không thật sự hiệu quả trong việc chỉ huy hàng phòng ngự.[32][47]
Do thể hình chắc nịch, Peruzzi được đặt biệt danh là "Tyson", ám chỉ vóc dáng mạnh mẽ tương tự của võ sĩ quyền Anh Mike Tyson,[9] và "Lợn rừng" ("Cinghialone" trong tiếng Ý).[8]
Sự nghiệp huấn luyện
Sau khi giải nghệ, Peruzzi làm việc trong ban huấn luyện đội tuyển quốc gia Ý với vai trò một trong các cộng sự của Marcello Lippi. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm trợ lý của Ciro Ferrara tại đội tuyển U-21 Ý[48] và vào năm 2012 theo ông gia nhập Sampdoria tại Serie A.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
^ abNicola Cecere (ngày 10 tháng 7 năm 1999). "Peruzzi para le cattiverie" (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2017.
^ abF.C. Internazionale Milano S.p.A. bilancio (financial report and accounts) on 30 tháng 6 năm 2000, PDF purchased from Italian C.C.I.A.A.(in Italian)
^"Inter, scommessa da 200 miliardi". La Gazzetta dello Sport (bằng tiếng Ý). ngày 28 tháng 6 năm 1999. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017. ...Inseguendo Peruzzi, la societa' deve adesso affrontare un sacrificio di trentasei miliardi: ventotto del cartellino e otto di ingaggio lordo...
^"Peruzzi alla Lazio, adesso è fatta". La Gazzetta dello Sport (bằng tiếng Ý). RCS MediaGroup. ngày 9 tháng 6 năm 2000. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
^Luca Valdiserri (ngày 15 tháng 8 năm 2003). "Le "uscite" di Peruzzi e i dubbi della società". Corriere della Sera (bằng tiếng Ý). tr. 47.
^Francesco Lisanti (ngày 24 tháng 3 năm 2016). "Quale portiere per l'Europeo" [Which goalkeeper for the European Championship] (bằng tiếng Ý). L'Ultimo Uomo.
^ abcdGIORGIO DELL’ARTI (ngày 23 tháng 6 năm 2014). "Biografia di Angelo Peruzzi" (bằng tiếng Ý). www.cinquantamila.it. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017.
^Paolo Forcolin; Lodovico Maradei (ngày 25 tháng 3 năm 1997). "lo scudetto nelle mani" (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017.
^Maurizio Crosetti (ngày 20 tháng 4 năm 1997). "LA RISPOSTA CHE VOLEVO" (bằng tiếng Ý). La Repubblica. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017.
^Francesco Bramardo; Luca Curino; Andrea Elefante; Luigi Garlando (ngày 27 tháng 9 năm 1999). "Vieri ordina l' applauso a Peruzzi" (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017.
^Luca Calamai; Nicola Cecere; Alberto Cerruti; Gaetano Imparato (ngày 8 tháng 10 năm 1999). "Centrocampo, Zoff cambia tutto" (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017.
^Nicola Cecere; Paolo Forcolin; Carlo Laudisa; Salvatore Lo Presti (ngày 11 tháng 12 năm 1999). "Vieri spaventa Inzaghi: "Vinceremo"" (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017.
^Stefano Tacconi (ngày 10 tháng 10 năm 1995). "Le pagelle di Tacconi" [Tacconi's report cards] (bằng tiếng Ý). La Stampa. tr. 29. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2016.
Informasi ini disarikan dari Wikipedia dan disajikan kembali untuk tujuan edukasi. Konten tersedia di bawah lisensi CC BY-SA 3.0. Kami tidak bertanggung jawab atas ketidakakuratan data yang bersumber dari kontribusi publik tersebut.
The information displayed on this website is sourced in part or in whole from Wikipedia and has been adapted for the purpose of restating it. We strive to provide accurate and relevant information, however:
There is no guarantee of absolute accuracy. Wikipedia is an open, collaborative project that can be edited by anyone, so information is subject to change.
It is not intended to constitute professional advice. The content displayed is for informational and educational purposes only. For important decisions (e.g., medical, legal, or financial), please consult a professional.
Content copyright. Wikipedia is licensed under the Creative Commons Attribution-ShareAlike License (CC BY-SA). This means that content may be reused with appropriate attribution and shared under a similar license.
Responsible use. Any risk arising from the use of information from this website is entirely the responsibility of the user.