Share to:

Haubits FH77

Haubits FH77/A
Lựu pháo Haubits FH77/A
LoạiLựu pháo
Nơi chế tạoThụy Điển
Lược sử hoạt động
Phục vụ1978 – nay
TrậnChiến tranh Kargil
Lược sử chế tạo
Người thiết kếBofors
Năm thiết kế1978
Nhà sản xuấtBofors
Giá thành695.000 $ (1986)[1]
Giai đoạn sản xuất1978–1984
Số lượng chế tạo720[2]
Các biến thểSee Variants
Thông số
Khối lượng11.500 kg (25.400 lb)
Chiều dàiCombat: 11,60 m (38 ft 1 in)
Độ dài nòng5,89 m (19 ft 4 in) L/38
Chiều rộngCombat: 9,73 m (31 ft 11 in)
Kíp chiến đấu9 đến 14 người

Đạn pháo155 mm chuẩn NATO
Cỡ đạn155 mm
Cơ cấu lên đạnSử dụng đạn bán liền, trong đó liều phóng được đựng trong vỏ liều phóng bằng nhựa với phần đáy bằng thép.
Khóa nòngKhóa nòng trượt thẳng đứng, nạp đạn bằng cơ cấu đẩy thủy lực.
Bệ pháoGiá pháo kiểu hai càng xòe (split-trail), có lắp các bánh xe xoay tự do ở càng pháo.
Góc nâng-5°/+70°
Xoay ngang30° trái/phải
Tốc độ bắn4 viên trong 9 giây,
6 viên trong 25 giây,
duy trì tốc độ bắn 3 viên mỗi phút trong 20 phút
Sơ tốc đầu nòng300 đến 770 m/s (980 đến 2.530 ft/s)
Tầm bắn hiệu quả21 km (13 mi)
Tầm bắn xa nhất24 km (15 mi) (đạn pháo tăng tầm)
> Hơn 60 km (sử dụng đạn động cơ ramjet)[3]
Chế độ nạpNạp đạn có trợ lực bằng máy đẩy đạn thủy lực.

Động cơVolvo B20 APU
Tốc độ6 km/h
Lựu pháo FH77/A.

Fälthaubits 77 (dịch Field Howitzer 77 – lựu pháo dã chiến 77) là một loại lựu pháo 155 mm của Thụy Điển, được phát triển và sản xuất bởi Bofors.[4] FH77 có nhiều phiên bản khác nhau:

  • Phiên bản nguyên bản (đôi khi được gọi là Haubits 77 A) sử dụng nòng pháo dài L/38 và khóa nòng kiểu khối trượt.
  • Phiên bản xuất khẩu FH77 B sử dụng nòng pháo dài L/39 và khóa nòng vít gián đoạn dạng đầu đạn (interrupted ogival screw breech).
  • Một số khẩu FH77A đã được cải hoán thành FH77 AD L/45 phục vụ trình diễn cho Hệ thống pháo tự hành Archer.
  • Phiên bản hệ thống PTH Archer được sản xuất hàng loạt được chế tạo bằng cách cải tạo các khẩu FH77B thành FH77 BW L/52.
  • Giá pháo của FH77 cũng được sử dụng cho hệ thống KARIN, từng được biên chế trong lực lượng pháo binh bờ biển Thụy Điển.

Thiết kế và phát triển

Lịch sử

Vào thập niên 1960, Thụy Điển bắt đầu tìm kiếm một loại pháo thay thế cho lựu pháo Obusier de 155 mm Modèle 50 (Haubits F) của Pháp. Mỹ chào hàng lựu pháo tự hành M109 và Thụy Điển đã tiến hành thử nghiệm loại pháo này. Mặc dù giá mua tương đối thấp, Cục Quản lý Vũ khí Thụy Điển nhận thấy chi phí bảo dưỡng cao, tốc độ bắn thấp và khả năng cơ động hạn chế của M109 khiến Thụy Điển quyết định tự phát triển lựu pháo nội địa. có khả năng cơ động cao và tốc độ bắn nhanh.

Kết quả là một giải pháp thỏa hiệp giữa lựu pháo tự hành đắt tiền và lựu pháo kéo thông thường có độ cơ động thấp hơn.

FH77 là lựu pháo dã chiến đầu tiên được trang bị động cơ phụ trợ (APU), cho phép pháo có thể tự di chuyển trong các hoạt động cơ động chiến thuật mà không cần xe kéo.

Vào thời điểm đó, tốc độ bắn của FH77 được đánh giá là đặc biệt cao đối với một khẩu pháo cỡ 155 mm. Phiên bản FH77A (sử dụng đạn bán liền) có thể bắn 4 viên trong 9 giây; hoặc bắn 6 viên trong 25 giây.

Khi bắn liên tục, khẩu pháo có thể duy trì bắn 6 viên trong mỗi 2 phút trong suốt 20 phút (tương đương 3 viên/phút).

Để sử dụng được đạn tiêu chuẩn NATO, phiên bản FH77B đã được phát triển. Trong khi khóa nòng kiểu khối trượt thẳng đứng hoạt động rất hiệu quả với đạn liều phóng đóng trong vỏ (liều phóng được chứa trong vỏ chủ yếu bằng nhựa với đáy thép, đồng thời đóng vai trò làm kín buồng đạn), thì việc sử dụng các bao thuốc phóng rời đòi hỏi phải chuyển sang khóa nòng vít gián đoạn.

Sự thay đổi này, kết hợp với việc kéo dài nòng pháo thêm một chút, giúp tăng nhẹ tầm bắn nhưng cũng làm giảm tốc độ bắn. Đồng thời, động cơ phụ trợ chạy xăng được thay thế bằng động cơ diesel, cho phép sử dụng cùng loại nhiên liệu với xe kéo pháo, giúp giảm gánh nặng về hậu cần.

Cơ động và triển khai

Xe kéo chuyên dụng của FH77 là Scania SBA111 (Tgb 40).[5] Xe được trang bị:

• Khoang chở kíp pháo phía sau cabin lái.

• Cần cẩu HIAB để bốc dỡ đạn.

Người lái xe kéo có thể khởi động và điều khiển động cơ phụ trợ của pháo nhằm tăng lực kéo khi di chuyển trên địa hình khó khăn. Tốc độ kéo tối đa đạt 70 km/h.

Khi tự hành, khẩu pháo được điều khiển bởi pháo thủ ngắm bắn thông qua cần điều khiển, dùng để điều chỉnh momen xoắn tới hai bánh chính. Tốc độ được điều khiển bằng cách thay đổi số vòng quay của động cơ phụ trợ.

Quá trình triển khai trận địa gồm:

1. Mở hai càng pháo.

2. Nâng bánh lái phụ phía trước.

3. Cho pháo lùi lại để các càng chống giật cắm sâu xuống đất.

Động cơ phụ

FH 77A trang bị động cơ phụ trợ Volvo B20 có tốc độ tự hành tối đa: 7 km/h. [5] Động cơ dẫn động ba bơm thủy lực:

  • Hai bơm truyền động tới bánh xe.
  • Một bơm phục vụ đảm nhiệm việc: quay pháo, nâng hạ nòng, nạp đạn, vận hành cần cẩu đạn.

Dung tích nhiên liệu:

  • Thùng chính: 40 lít.
  • Hai thùng dự trữ: 20 lít/thùng.

FH 77B giữ nguyên cung cách bố trí hệ thống nhưng sử dụng động cơ diesel Mercedes-Benz.

Kíp chiến đấu

Kíp chiến đấu gồm từ 10–14 người. Tổ tối thiểu gồm 4 người:

  • Chỉ huy khẩu đội.
  • Pháo thủ ngắm bắn.
  • Nạp đạn số 1.
  • Nạp đạn số 2.

Chỉ huy

  • Điều hành toàn bộ hoạt động của khẩu đội từ bục bên trái pháo thủ.
  • Pháo thủ
  • Ngồi bên trái khẩu pháo.
  • Điều khiển máy tính điều khiển hỏa lực.
  • Lái pháo khi tự hành.

Nạp đạn viên số 1

  • Ngồi bên phải pháo.
  • Đưa đầu đạn từ bàn nạp vào cơ cấu nạp.

Nạp đạn viên số 2 và số 3

  • Làm việc dưới mặt đất.
  • Dùng cần cẩu thủy lực đưa đạn lên.
  • Nạp các liều phóng vào máng nạp.

Nạp đạn viên số 3

  • Thường đồng thời là lái xe kéo.

Đạn pháo

FH77A sử dụng đạn nổ mạnh 155 mm m/77 (nặng 42kg). Liều phóng được đặt trong vỏ nhựa chứa 6 cấp thuốc phóng.[5]

FH77B thường sử dụng đạn pháo 155mm chuẩn NATO và liều phóng dạng bao thuốc.[5]

Cả hai phiên bản đều có thể sử dụng:

  • Đạn tăng tầm Base Bleed do Bofors phát triển.
  • Đạn chùm chống tăng Bofors BONUS.
  • Đạn pháo thông minh M982 Excalibur.

Đạn pháo động cơ ramjet

Indian Institute of Technology Madras đang phối hợp với Indian Institute of Technology Kanpur, Armament Research and Development Establishment và Research Centre Imarat để nghiên cứu cải tiến đạn pháo 155 mm hiện có bằng động cơ phản lực dòng khí (ramjet). Yêu cầu của loại đạn pháo này:

  • Tầm bắn trên 60 km.
  • Có bộ dẫn đường hiệu chỉnh quỹ đạo.
  • Được sản xuất tại Munitions India Limited.[6]

Đạn pháo thông minh

IIT Madras đang hợp tác với Munitions India nhằm phát triển đạn pháo thông minh 155 mm tương thích với pháo FH77 mà không cần cải tạo lại pháo. Đặc điểm của đạn pháo bao gồm:

  • Sai số vòng tròn xác suất (CEP) dưới 10 m.
  • Ổn định bằng cánh đuôi.
  • Điều khiển bằng cánh lái canard.
  • Ngòi nổ ba chế độ.
  • Dẫn đường bằng hệ thống vệ tinh NavIC.
  • Tầm bắn:
    • tối thiểu: 8 km,
    • tối đa: 38 km.[7]

Vụ bê bối của Bofors tại Ấn Độ

Đây là một vụ bê bối chính trị lớn giữa Thụy Điển và Ấn Độ trong thập niên 1980 – 1990. Các chính trị gia thuộc Đảng Quốc Đại Ấn Độ, bao gồm Thủ tướng Rajiv Gandhi, bị cáo buộc đã nhận tiền hoa hồng từ công ty Bofors AB để giành hợp đồng cung cấp pháo FH77B 155 mm cho quân đội Ấn Độ.[8]

Hâu quả là Ấn Độ đã không mua thêm 48 khẩu FH77B, những khẩu pháo này sau đó được đưa vào biên chế trong Lục quân Thụy Điển, về sau chúng được cải tiến thành hệ thống pháo tự hành Archer.

Các phiên bản

Haubits FH77/B của Lục quân Ấn Độ

Phiên bản xe kéo

  • FH77 A – Phiên bản đầu tiên, trang bị động cơ xăng Volvo B20A và nòng pháo L/38.[5]
  • FH77 B – phiên bản xuất khẩu trang bị động cơ diesel Mercedes-Benz OM-616.918, nòng pháo L/39. Có tốc độ bắn thấp hơn do sử dụng khóa nòng cải tiến để bắn được đạn chuẩn NATO.[5]

Phiên bản pháo tự hành

Các nước sử dụng

Các nước sử dụng FH77
  • Thụy Điển Thụy Điển – Đã có khoảng 220 khẩu pháo FH77 được chuyển giao cho Lục quân Thụy Điển (1979 – 1984).[2]
  • Nigeria Nigeria – Mua 48 khẩu FH77B vào năm 1980.[2]
  • Ấn Độ Ấn Độ – Mua 410 khẩu (1986–1991).[9][10] hiện 200 khẩu vẫn còn trong trang bị quân đội Ấn Độ.[11] Ấn Độ đã phát triển pháo Dhanush, dựa trên FH77B, được đưa vào trang bị từ năm 2019.[12] Đây là một khẩu pháo cỡ nòng 155 mm L/45, tầm bắn tối đa đạt khoảng 38 km và được trang bị máy tính điều khiển hỏa lực tích hợp, hệ thống tính toán đường đạn, thiết bị ngắm hiện đại và cải tiến cơ khí/điện tử so với nguyên bản FH 77B.[13]

Tham khảo

  1. ^ "25 years of India's 'Watergate': The Bofors scandal". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2016.
  2. ^ a b c Mats Persson. "Swedish 155mm Field Howitzers". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2009.
  3. ^ MP, Sidharth (ngày 21 tháng 2 năm 2020). "IIT-M working on next-gen Ramjet-powered 155mm artillery shells for Indian Army". WION. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2022.
  4. ^ "Fälthaubits 77 - FH77". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2018.
  5. ^ a b c d e f "Startsida | Chalmers". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2005.
  6. ^ MP, Sidharth (ngày 21 tháng 2 năm 2020). "IIT-M working on next-gen Ramjet-powered 155mm artillery shells for Indian Army". WION. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2022.
  7. ^ MP, Sidharth (ngày 5 tháng 2 năm 2024). "IIT-M and Munitions India to develop smart ammo for 155mm artillery guns". WION (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2024.
  8. ^ "What the Bofors scandal is all about". IBN Live. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2015.
  9. ^ "Arms transfers database". SIPRI. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2024.
  10. ^ "Artillery Booms Again". South Asia Defence & Strategic Review. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2013.
  11. ^ "Murky Competitions for Indian Howitzer Orders May End Soon". Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2013.
  12. ^ Ritu Sharma. "Higher calibre artillery gun to be ready by 2013:MoD". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2012.
  13. ^ "Army to soon induct indigenous artillery gun 'Dhanush' a.k.a 'desi bofors'". ngày 8 tháng 9 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2016.

Content Disclaimer

Informasi ini disarikan dari Wikipedia dan disajikan kembali untuk tujuan edukasi. Konten tersedia di bawah lisensi CC BY-SA 3.0. Kami tidak bertanggung jawab atas ketidakakuratan data yang bersumber dari kontribusi publik tersebut.

  1. The information displayed on this website is sourced in part or in whole from Wikipedia and has been adapted for the purpose of restating it. We strive to provide accurate and relevant information, however:
  2. There is no guarantee of absolute accuracy. Wikipedia is an open, collaborative project that can be edited by anyone, so information is subject to change.
  3. It is not intended to constitute professional advice. The content displayed is for informational and educational purposes only. For important decisions (e.g., medical, legal, or financial), please consult a professional.
  4. Content copyright. Wikipedia is licensed under the Creative Commons Attribution-ShareAlike License (CC BY-SA). This means that content may be reused with appropriate attribution and shared under a similar license.
  5. Responsible use. Any risk arising from the use of information from this website is entirely the responsibility of the user.
Prefix: a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9

Portal di Ensiklopedia Dunia

Kembali kehalaman sebelumnya