Share to:

Suddhipanthaka

Śuddhipanthaka (tiếng Phạn: शुद्धिपन्थक; Pali: Suddhipanthaka), (Tiếng Trung Quốc: 周利槃特,小路; tiếng Việt: Chu Lợi Bàn Đặc, Tiểu Lộ) là một đệ tử của Gautama Buddha. Theo truyền thống, ông được biết đến là người chậm hiểu nhất trong số các đệ tử của Đức Phật, không thể ghi nhớ các bài giảng của Đức Phật hoặc thậm chí giữ được những câu kệ ngắn trong trí nhớ.

Theo truyền thuyết, có lần Đức Phật giao cho ông nhiệm vụ quét sân. Sau khi quét dọn trong một thời gian dài, ông suy ngẫm: "Mặt đất đã sạch, nhưng tâm ta đã sạch chưa?" Sự quán chiếu này đã dẫn ông đến việc đạt được giác ngộ.

Suddhipanthaka là một ví dụ quan trọng cho thấy trí tuệ trong sự giác ngộ không liên quan đến khả năng ghi nhớ nói chung (saññā). Trí tuệ trong giác ngộ là trí tuệ do tu tập (bhavanamaya wisdom), tức khả năng vận dụng trí tuệ vi tế phát sinh từ việc dùng nội tuệ để tự mình quán xét và thấy được chân lý của thế gian. Vì vậy, việc không giỏi ghi nhớ hoặc học thuộc lòng không phải là một chướng ngại đối với sự giác ngộ.

Lịch sử

Xuất gia vì người anh trai

Suddhipanthaka là em trai của Mahāpanthaka (Phra Maha Panthaka Thera, Đại Lộ Bàn Đặc), người đã chứng đắc quả vị A-la-hán. Được truyền cảm hứng bởi sự kính trọng mà anh trai mình nhận được, Suddhipanthaka bày tỏ mong muốn được xuất gia. Anh trai ông đồng ý và xin phép ông ngoại của họ là Thanasethi, người đã vui vẻ chấp thuận vì lòng tín thành sâu sắc của mình đối với Phật giáo.

Bị anh trai hoàn tục

Sau khi xuất gia, người anh trai đã cố gắng dạy ông một bài kệ bốn câu:

Hoa sen mang tên Kokanuda đã nở cánh vào lúc bình minh. Hương thơm của nó lan tỏa vô tận. Hãy nhìn Sakyamuni Angkīrasa, người có ánh hào quang rực rỡ như sao mai, chiếu sáng giữa bầu trời.

Tuy nhiên, sau bốn tháng, Suddhipanthaka vẫn không thể thuộc bài kệ đó.[1] Thất vọng, người anh đã đuổi ông ra khỏi tu viện vì cho rằng ông quá đần độn.

Đức Phật dạy Suddhipanthaka

Cảm thấy buồn bã và thất vọng, Suddhipanthaka lang thang đến cổng Wat Chivakamphavan và khóc. Đức Phật gặp ông và hỏi về hoàn cảnh của ông. Sau khi nghe câu chuyện, Đức Phật khuyến khích ông: "Con không xuất gia vì anh trai mình mà vì ta. Hãy đến đây và ở cùng ta."

Sau đó, Đức Phật trao cho ông một tấm vải trắng sạch và bảo ông vừa lau tấm vải vừa lặp lại câu "Rajoharanam" ("loại bỏ bụi bẩn"). Khi tấm vải dần chuyển màu sẫm, Suddhipanthaka nhận ra: "Tấm vải này trước đây từng trắng, nhưng giờ đã bẩn. Tâm cũng bị ô nhiễm như vậy." Sự chứng ngộ này đã dẫn ông đến việc thực hành thiền minh sát (vipassana), nhờ đó ông chứng đắc quả vị A-la-hán.

Một số tài liệu cũng đề cập rằng Đức Phật đã kể cho ông nghe câu chuyện Cula Setthi Jataka[2] như một phương tiện giáo hóa.

Biểu hiện thần thông

Ngày hôm sau, Đức Phật cùng với 599 vị tỳ-kheo được mời đến dùng bữa tại nhà của lương y Jivaka Komarabhacca. Khi thức ăn được dâng lên, Đức Phật từ chối và nói rằng vẫn còn thiếu một vị tỳ-kheo.

Một người hầu được cử đi tìm Suddhipanthaka đã chứng kiến hàng nghìn vị tỳ-kheo giống hệt nhau được tạo ra bằng năng lực Manomayiddhi của Suddhipanthaka. Không thể nhận ra ai là người thật, anh ta quay trở về. Đức Phật bảo anh hãy quan sát xem ai là người lên tiếng trước và nắm lấy tay người đó. Người hầu làm theo, và tất cả các hình ảnh huyễn hóa đều biến mất. Sau đó, Suddhipanthaka đã đi cùng anh ta đến dự bữa ăn.

Đức Phật tán dương Suddhipanthaka là người đứng đầu trong Ceto-vimutti (giải thoát tâm) và Manomayiddhi (hóa hiện bằng tâm).

Nghiệp trong quá khứ

Trong một kiếp trước, vào thời Phật Padumuttara, Suddhipanthaka và anh trai của ông đã thực hiện những cúng dường lớn lao. Sau khi chứng kiến một vị tỳ-kheo được tán dương là đệ nhất về giải thoát tâm, Suddhipanthaka đã phát nguyện đạt được địa vị đó. Đức Phật Padumuttara đã thọ ký rằng sau 100.000 kappa, ông sẽ tái sinh làm đệ tử của Đức Phật Gotama, chứng đắc quả vị A-la-hán và được tôn vinh với danh hiệu tương tự.

Về sau, vào thời Phật Ca-diếp, ông trở thành một vị tỳ-kheo thông tuệ. Tuy nhiên, do chế giễu một vị tỳ-kheo khác vì tụng kinh sai, ông đã tạo nghiệp bất thiện làm chậm sự tiến bộ của mình trong các đời sau. Nghiệp này chín muồi trong kiếp sống của ông với tư cách là Suddhipanthaka, khiến ông gặp khó khăn lúc đầu trong việc học tập.

Sau khi chứng đắc quả vị A-la-hán, ông đạt được khả năng làm chủ các năng lực tâm linh và có thể hóa hiện thân mình thành 1.000 thân thể. Ông được Đức Phật chính thức công nhận là người xuất sắc nhất về năng lực hóa hiện bằng tâm và thiền định.[3][4][5]

Trong kinh điển

Kinh điển Đại thừa ghi chép

Kinh Lăng Nghiêm · Quyển 5 · Chương Viên thông nơi mũi của Châu Lợi Bàn Đặc Già (周利槃特伽)

Ghi chép trong kinh điển Phật giáo Nguyên thủy

  • Châu Lợi Bàn Đặc (周利槃特, người em) và Ma Ha Bàn Đặc (摩訶槃特, người anh) có căn cơ khác nhau, người em ngu độn, người anh thông tuệ. Châu Lợi Bàn Đặc vì không thể ghi nhớ giới luật nên bị anh trai đe dọa buộc phải rời khỏi Tăng đoàn. Thích-ca Mâu-ni Phật sau khi biết chuyện đã giao cho Châu Lợi Bàn Đặc công việc quét dọn. Sau vài ngày, Châu Lợi Bàn Đặc nhờ cây chổi mà chứng đắc quả vị A-la-hán.[6][7]
  • Một lần Thái tử Mãn Hô (滿呼王子) thỉnh Đức Phật và các đệ tử đến thành La Duyệt (Rājagṛha) thọ cúng dường. Tuy nhiên, vì từng nghe rằng Chu Lợi Bàn Đặc không thể tranh luận với các ngoại đạo nên vị thái tử từ chối mời ông. Cuối cùng, Chu Lợi Bàn Đặc đã dùng thần thông hóa hiện thành năm trăm vị tỳ-kheo, khiến Thái tử Mãn Hô hoàn toàn tâm phục khẩu phục.[8]
  • Theo Thập Tụng Luật (Daśa-bhāṇavāra-vinaya), Đức Phật từng sai các trưởng lão tỳ-kheo giáo giới các tỳ-kheo-ni. Đến lượt Châu Lợi Bàn Đặc, vì ông chỉ thuộc một bài kệ nên bị các tỳ-kheo-ni xem thường. Sau đó, Châu Lợi Bàn Đặc dùng thần thông để hàng phục đại chúng tỳ-kheo-ni.[10]
  • Trong kinh điển Pāli, Tiểu bộ (Khuddaka Nikāya), phần Trưởng lão kệ[11]Luật tạng Pāli (Theravāda Vinayapiṭaka)[12] cũng có ghi chép về Châu Lợi Bàn Đặc.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ "Chulapanthaka Thera – Người xuất sắc nhất trong việc làm chủ Manomayiddhi". Dhammakhandha. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2009.
  2. ^ (Cullaka-seṭṭhi-jātaka - Truyện Trưởng Giả Nhỏ): Một thanh niên nghèo nghe theo lời khuyên tình cờ của một vị trưởng giả, bắt đầu khởi nghiệp từ một con chuột chết. Nhờ trí thông minh và sự nhạy bén, anh ta tích lũy được khối tài sản khổng lồ.
  3. ^ "Tipitaka, Volume 20, Suttanta Pitaka, Volume 12, Ekkappakkhabali". 84000.org. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2009.[liên kết hỏng]
  4. ^ "Tipitaka, Volume 20, Suttanta Pitaka, Volume 12, Ekkapokkhapali". 84000.org. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2009.
  5. ^ Bannaruji, Banjob (tháng 11 năm 2006). "Dhammalila Newspaper, Issue 72, November 2006". Manager Online. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2009.
  6. ^ Thiện Kiến Luật Tỳ-bà-sa quyển 16: "Bấy giờ Đức Phật thuyết pháp cho bốn chúng. Khi ấy Ma Ha Bàn Đà đến chỗ Phật nghe pháp, sau khi nghe pháp tâm hoan hỷ muốn xuất gia, trở về nhà bàn với em trai rằng: ‘Ta nay muốn xuất gia, mọi việc trong nhà giao lại cho em.’ Người em nghe lời anh thì vô cùng buồn bã, thưa với anh: ‘Nay em cô độc không nơi nương tựa, nếu anh bỏ em mà xuất gia thì em làm sao sống được?’ Người em cầu xin ba lần như vậy, nhưng ý chí người anh vẫn kiên định không lay chuyển, giao lại gia nghiệp cho em rồi xuất gia. Không lâu sau khi xuất gia, ông chứng đắc quả A-la-hán. Về sau, người em tự nghĩ: ‘Anh ta đã bỏ gia nghiệp lại cho ta, chẳng khác nào vật đã nhổ bỏ. Ta sao có thể tham đắm mà thọ nhận?’ Vì chán ghét thế tục nên đến chỗ anh xin xuất gia. Người anh liền độ cho xuất gia, dạy một bài kệ, nhưng suốt bốn tháng vẫn quên trước mất sau. Ma Ha Bàn Đà nghĩ rằng: ‘Người này không có duyên với Phật pháp, nên cho trở về nhà.’ Bèn nói với Châu La Bàn Đà rằng: ‘Ngươi là kẻ độn căn.’ Rồi kéo áo cà-sa đuổi ra khỏi cửa. Châu La Bàn Đà đứng ngoài cửa khóc lóc, không muốn trở về nhà... ‘Châu La Bàn Đà từ xa nghe được bài kệ ấy, liền chứng đắc quả A-la-hán.’"
  7. ^ "Được [https://web.archive.org/web/20190914084400/ lưu trữ] ngày 14 tháng 9 năm 2019 tại [[Wayback Machine]] - Câu chuyện về Tôn giả Châu Lợi Bàn Đà Già (Dấu chân của các vị Tôn giả – Truyện trong Pháp Cú Kinh Nam truyền)". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2026. {{Chú thích web}}: Liên kết ngoài trong |title= (trợ giúp); URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  8. ^ Tăng Nhất A-hàm Kinh quyển 40 ghi: Một thời, Đức Phật ở thành La Duyệt tại rừng trúc Ca-lan-đà cùng với năm trăm vị đại tỳ-kheo. Lúc ấy, Thái tử Mãn Hô đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân rồi ngồi sang một bên. Thái tử bạch Thế Tôn: “Tôi từng nghe rằng: ‘Tỳ-kheo Chu Lợi Bàn Đặc đã tranh luận với Bà-la-môn Lô-ca-diên mà không thể đối đáp.’ Tôi cũng từng nghe rằng: ‘Trong hàng đệ tử Như Lai, người căn cơ tối tăm, thiếu trí sáng suốt, không ai bằng vị này. Trong hàng cư sĩ của Như Lai, người dòng Thích ở thành Ca-tỳ-la-vệ cũng căn cơ chậm lụt, tâm ý bế tắc.’” Đức Phật bảo Thái tử: “Tỳ-kheo Chu Lợi Bàn Đặc có thần túc lực, đã chứng đắc pháp thượng nhân, chỉ không học các phép biện luận của thế gian. Hơn nữa, vị tỳ-kheo này có nghĩa lý rất thâm diệu.” Thái tử thưa: “Dù Đức Phật nói như vậy, nhưng trong lòng tôi vẫn nghĩ: ‘Nếu có thần lực lớn thì tại sao lại không thể tranh luận với ngoại đạo?’ Nay tôi xin thỉnh Đức Phật và Tăng chúng, ngoại trừ Chu Lợi Bàn Đặc.” Thế Tôn im lặng nhận lời... Sau đó, Chu Lợi Bàn Đặc hóa hiện năm trăm cây hoa, dưới mỗi gốc cây đều có một Chu Lợi Bàn Đặc đang ngồi thiền định. Thái tử được lệnh đi lấy bình bát của Như Lai. Từ xa thấy dưới năm trăm gốc cây đều có Chu Lợi Bàn Đặc đang tọa thiền, tâm không tán loạn. Không biết ai là thật nên quay lại hỏi Phật. Đức Phật bảo: “Hãy trở lại khu vườn, đứng ở giữa và nói: ‘Nếu thật sự là Chu Lợi Bàn Đặc thì xin hãy đứng dậy.’” Thái tử làm theo. Lập tức năm trăm vị hóa hiện đều biến mất, chỉ còn lại một Chu Lợi Bàn Đặc. ... Đức Phật lại bảo các tỳ-kheo: “Trong hàng Thanh văn của Ta, vị đứng đầu về năng lực biến hóa thân hình, có thể lớn có thể nhỏ, không ai sánh bằng tỳ-kheo Chu Lợi Bàn Đặc.” Từ đó, Thái tử Mãn Hô sinh lòng kính tin sâu sắc và phát nguyện suốt đời cúng dường mọi nhu yếu phẩm cho Chu Lợi Bàn Đặc.
  9. ^ Căn bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ-nại-da Dược sự quyển 17: Bấy giờ, Bàn Đà Ca nói bài kệ rằng: Ta trong đời trước, Là người nuôi lợn. Buộc miệng bầy lợn, Dắt qua bờ sông. Đến giữa dòng nước, Muốn sang bờ kia. Lợn đều nghẹt thở, Do đó chết hết. Ta cũng bị nước, Cuốn trôi chìm mất. Bơ vơ lạc lối, Không biết làm gì. Ven sông có tiên, Thương xót cứu giúp. Cứu ta khỏi nạn, Cho phép xuất gia. Dạy pháp tam muội, Vô tướng điều tâm. Mạng chung nơi ấy, Sinh lên cõi trời. Hết phước cõi trời, Lại sinh làm người. Tôn kính Chánh Giác, Bỏ tục xuất gia. Ngu si chậm lụt, Không thể ghi nhớ. Trong suốt ba tháng, Mới thuộc một bài kệ. Hiểu được ý nghĩa, Phiền não gần dứt. Nhớ nghĩ nghiệp cũ, Tự biết nhân duyên. Trải vô lượng kiếp, Luân hồi sinh tử. Đối trước Đấng Phụ Thế Gian, Tại hồ Vô Nhiệt này, Ta là Châu Lợi Bàn Đà, Nói về nghiệp đen trắng ấy.
  10. ^ Thập Tụng Luật quyển 11: Phật ở nước Xá-vệ. Bấy giờ Phật bảo các tỳ-kheo: “Ta giáo hóa bốn chúng đã mệt nhọc, nay các tỳ-kheo nên thay nhau giáo giới các tỳ-kheo-ni.” ... Các tỳ-kheo-ni nghe hôm nay đến lượt Trưởng lão Bàn Đặc giáo giới thì đều sinh tâm khinh thường: “Vị này ít học ít nghe, suốt bốn tháng mùa hạ mới thuộc được một bài kệ: ‘Người trí thân khẩu ý, Chẳng làm mọi điều ác, Thường giữ chánh niệm hiện tiền, Xa lìa các dục vọng, Cũng không chấp nhận, Những khổ hạnh vô ích ở đời.’ Chúng ta đã thuộc bài kệ ấy từ lâu rồi, còn điều gì mới để nghe nữa?” ... Trưởng lão Bàn Đặc dùng thần thông biến mất khỏi tòa ngồi, hiện thân giữa hư không phương Đông, biểu hiện đủ bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm; nhập tam muội hỏa quang, từ thân phát ra các luồng ánh sáng xanh, vàng, đỏ, trắng; lúc thì thân dưới phát lửa, thân trên tuôn nước; lúc thì ngược lại. Sau khi chứng kiến thần lực ấy, các tỳ-kheo-ni đều dứt tâm khinh mạn, sinh lòng tôn kính và tín phục. Ngài liền tùy căn cơ mà thuyết pháp. Trong đại chúng có người chứng quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán; có người gieo nhân Duyên giác thừa; có người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
  11. ^ Trưởng lão kệ (Thag 10.4)
  12. ^ Luật tạng Vin.iv.54f
  • Helen Craig McCullough. Văn xuôi Nhật Bản cổ điển: Tuyển tập Stanford University Press, 1990, tr. 571

Content Disclaimer

Informasi ini disarikan dari Wikipedia dan disajikan kembali untuk tujuan edukasi. Konten tersedia di bawah lisensi CC BY-SA 3.0. Kami tidak bertanggung jawab atas ketidakakuratan data yang bersumber dari kontribusi publik tersebut.

  1. The information displayed on this website is sourced in part or in whole from Wikipedia and has been adapted for the purpose of restating it. We strive to provide accurate and relevant information, however:
  2. There is no guarantee of absolute accuracy. Wikipedia is an open, collaborative project that can be edited by anyone, so information is subject to change.
  3. It is not intended to constitute professional advice. The content displayed is for informational and educational purposes only. For important decisions (e.g., medical, legal, or financial), please consult a professional.
  4. Content copyright. Wikipedia is licensed under the Creative Commons Attribution-ShareAlike License (CC BY-SA). This means that content may be reused with appropriate attribution and shared under a similar license.
  5. Responsible use. Any risk arising from the use of information from this website is entirely the responsibility of the user.
Prefix: a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9

Portal di Ensiklopedia Dunia

Kembali kehalaman sebelumnya