V bomber
"V bombers" hay "Máy bay ném bom V" là tên gọi của loại máy bay của Không quân Hoàng gia Anh (RAF) trong những năm 1950 và 1960, hình thành nên lực lượng tấn công hạt nhân chiến lược của Vương quốc Anh, được gọi chính thức là Lực lượng V hoặc Lực lượng Chính của Bộ Tư lệnh Máy bay ném bom. Ba mẫu máy bay ném bom chiến lược, được gọi chung là lớp V, bao gồm Vickers Valiant, bay thử lần đầu năm 1951 và đi vào hoạt động năm 1955; Avro Vulcan, bay thử lần đầu năm 1952 và đi vào hoạt động năm 1956; và Handley Page Victor, bay thử lần đầu năm 1952 và đi vào hoạt động năm 1957. Lực lượng Máy bay ném bom V đạt đỉnh cao vào tháng 6 năm 1964 với 50 chiếc Valiant, 70 chiếc Vulcan và 39 chiếc Victor đang hoạt động.
Khi các tên lửa đất đối không của Liên Xô như S-75 Dvina xuất hiện với khả năng bắn hạ máy bay bay cao, lực lượng máy bay ném bom V đã chuyển sang các phương pháp tấn công tầm thấp. Thêm vào đó, cấu hình tên lửa Blue Steel cũng được thay đổi thành loại xuyên phá và bay ở tầm thấp. Điều này làm giảm đáng kể tầm bắn của nó. Sau đó, người ta lên kế hoạch chuyển sang tên lửa đạn đạo phóng từ máy bay Skybolt có tầm bắn xa hơn nhiều. Khi Mỹ hủy bỏ dự án Skybolt, khả năng sống sót của lực lượng máy bay ném bom V trước hỏa lực phòng không Liên Xô trở nên rất đáng ngờ. Điều này dẫn đến việc Hải quân Hoàng gia Anh đảm nhận vai trò răn đe hạt nhân từ năm 1968, sử dụng tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm UGM-27 Polaris. Vai trò ném bom hạt nhân chiến thuật được chuyển giao cho các máy bay tiêm kích bom nhỏ hơn như SEPECAT Jaguar và Panavia Tornado.
Máy bay ném bom V cũng có khả năng sử dụng vũ khí thông thường, được hỗ trợ bởi một hệ thống máy tính tương tự phức tạp được gọi là Hệ thống Điều hướng và Ném bom (Navigation and Bombing System), cho phép ném bom chính xác ngay cả ở cự ly rất xa. Máy bay Valiant được sử dụng trong cuộc khủng hoảng Suez với vai trò máy bay ném bom thông thường. Máy bay Victor và Vulcan được triển khai đến quần đảo Mã Lai như một biện pháp răn đe trong cuộc đối đầu Indonesia-Malaysia nhưng không được sử dụng trong các nhiệm vụ. Máy bay Vulcan được nhớ đến nhiều nhất nhờ các cuộc không kích ném bom Black Buck trong Chiến tranh Falkland năm 1982. Để hỗ trợ các nhiệm vụ như vậy, các phiên bản máy bay tiếp nhiên liệu của cả ba loại máy bay đã được phát triển. Các phiên bản trinh sát đã được sản xuất, và các sửa đổi khác cũng được thực hiện trong suốt vòng đời của chúng.
Máy bay ném bom Valiant đã bị loại biên vào năm 1964 sau khi phát hiện ra các vấn đề về mỏi kim loại ở cánh; biến thể bay tầm thấp theo kế hoạch đã không được phát triển vượt ra ngoài giai đoạn nguyên mẫu. Việc sử dụng tất cả các máy bay ném bom V làm nền tảng vũ khí, hạt nhân hoặc thông thường, đã kết thúc vào năm 1982.
Bối cảnh
Bộ Tư lệnh Máy bay ném bom của Không quân Hoàng gia Anh (RAF) đã kết thúc Thế chiến thứ hai với chính sách sử dụng máy bay ném bom hạng nặng bốn động cơ piston cho các cuộc tấn công quy mô lớn, và vẫn cam kết với chính sách này trong giai đoạn hậu chiến. RAF đã chọn Avro Lincoln, một phiên bản được nâng cấp từ Avro Lancaster, làm máy bay ném bom tiêu chuẩn cho mục đích này. Việc sản xuất Lincoln vẫn tiếp tục sau chiến tranh, và cuối cùng có 450 chiếc đã được chế tạo. Mặc dù được ca ngợi là một máy bay ném bom mạnh mẽ vào năm 1945, nhưng nó thiếu tầm bay để tiếp cận các mục tiêu ở Liên Xô, và sẽ dễ bị tổn thương trước các máy bay chiến đấu phản lực mới đang được phát triển vào thời điểm đó.[1]
Các nhân vật trong RAF và chính phủ tìm cách triển khai vũ khí hạt nhân mới và những tiến bộ trong công nghệ hàng không để đưa ra các phương tiện tiến hành chiến tranh mạnh mẽ và hiệu quả hơn. Vào tháng 11 năm 1944, Tham mưu trưởng Vương quốc Anh đã yêu cầu Sir Henry Tizard báo cáo về các phương tiện chiến tranh tiềm năng trong tương lai. Khi viết báo cáo này Tizard đã không biết về tiến độ nỗ lực của Đồng minh trong việc sản xuất bom nguyên tử, vào tháng 7 năm 1945, Ủy ban Tizard đã kêu gọi khuyến khích nghiên cứu năng lượng nguyên tử quy mô lớn. Ủy ban này dự đoán được những tác động tàn phá của vũ khí nguyên tử và hình dung ra tương lai sẽ xuất hiện những máy bay ném bom phản lực bay cao với tốc độ 800 km/h (500 mph) ở độ cao 12.000 m (40.000 ft) mang vũ khí hạt nhân. Người ta cho rằng những cuộc xâm lược tiềm năng có thể bị ngăn chặn bởi ý niệm rằng Anh sẽ có khả năng trả đũa bằng vũ khí nguyên tử nếu bị tấn công.[2]
Ngay cả vào thời điểm đó, đã có những người nhận thấy rằng các loại tên lửa phòng không có điều khiển đang phát triển cuối cùng sẽ khiến những chiếc máy bay như vậy dễ bị tổn thương, nhưng việc phát triển những tên lửa như vậy đang gặp khó khăn, và máy bay ném bom phản lực bay cao và nhanh có thể sẽ phục vụ trong nhiều năm trước khi dần bị lỗi thời. Việc sử dụng phi đội máy bay ném bom số lượng lớn là không cần thiết nữa nếu như chỉ một máy bay ném bom duy nhất cũng có thể phá hủy toàn bộ một thành phố hoặc cơ sở quân sự bằng vũ khí hạt nhân. Nó sẽ phải là một máy bay ném bom lớn, vì thế hệ vũ khí hạt nhân thời kỳ này vẫn còn rất lớn và nặng. Một máy bay ném bom lớn và tiên tiến như vậy sẽ rất đắt tiền, vì vậy nó sẽ chỉ được sản xuất với số lượng nhỏ.[3]
Trong giai đoạn đầu của Chiến tranh Thế giới thứ hai, Anh có một dự án vũ khí hạt nhân, được đặt mật danh là Tube Alloys,[4] dự án này đã được Hiệp định Quebec năm 1943 sáp nhập với Dự án Manhattan của Mỹ . Chính phủ Anh tin tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục chia sẻ công nghệ hạt nhân, mà họ coi là một khám phá chung, sau chiến tranh, nhưng Đạo luật Năng lượng Nguyên tử Hoa Kỳ năm 1946 (Đạo luật McMahon) đã chấm dứt hợp tác kỹ thuật.[5] Chính phủ Anh coi đây là sự trỗi dậy của chủ nghĩa không can thiệp của Hoa Kỳ, như đã xảy ra sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và lo sợ khả năng Anh có thể phải chiến đấu một mình.[6] Họ cũng lo sợ rằng Anh có thể mất vị thế cường quốc và ảnh hưởng của mình trong các vấn đề thế giới. Do đó, họ đã khởi động lại chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của riêng mình,[7] mà về sau được gọi dưới cái tên High Explosive Research.[8] Quả bom hạt nhân đầu tiên đã được Anh thử nghiệm trong Operation Hurricane ngày 3/10/1952.[9]
Phát triển
Tháng 11 năm 1946, Bộ Không quân Hoàng gia Anh ban hành yêu cầu tác chiến (OR230) đối với một máy bay ném bom phản lực tiên tiến có khả năng mang bom hạt nhân nặng 10.000 pound (4.500 kg) đến mục tiêu cách 2.000 hải lý (3.700 km) với tốc độ bay hành trình 500 hải lý/giờ (930 km/giờ) và ở độ cao từ 35.000 đến 50.000 feet (11.000 đến 15.000 m). Trọng lượng bom này xuất phát từ yêu cầu tác chiến trước đó đối với bom nguyên tử (OR1001), trong đó quy định trọng lượng tối đa là 10.000 pound (4.500 kg). Các yêu cầu về tốc độ và độ cao dựa trên những gì được cho là cần thiết để xuyên thủng hệ thống phòng không của đối phương. Bản thân máy bay không được nặng quá 200.000 pound (91.000 kg). Bộ Cung ứng đã lưỡng lự và ban đầu từ chối chấp nhận OR230. Các tính toán cho thấy một chiếc máy bay như vậy sẽ cần một đường băng dài 2.000 thước Anh (1.800 m). Các đường băng của Bộ Tư lệnh Máy bay ném bom được xây dựng để phục vụ Lancaster, và việc mở rộng chúng sẽ là một công việc tốn kém, không chỉ liên quan đến việc xây dựng thêm mà còn cả việc mua đất và phá dỡ. OR230 do đó sẽ không bao giờ được thực hiện và cuối cùng đã bị hủy bỏ vào ngày 17 tháng 9 năm 1952.[10][11]
Ủy ban Yêu cầu Vận hành đã họp để thảo luận về OR230 vào ngày 17 tháng 12 năm 1946. Ủy ban này do Phó Tham mưu trưởng Không quân, Thượng tướng Sir William Dickson chủ trì , cùng với Stuart Scott-Hall, Giám đốc Chính về Phát triển Kỹ thuật (Không quân) đại diện cho Bộ Cung ứng. Kết quả là một Yêu cầu Vận hành mới (OR229) vào ngày 7 tháng 1 năm 1947. Yêu cầu này gần giống với OR230, nhưng tầm bay bị cắt giảm xuống còn 1.500 hải lý (2.800 km) và trọng lượng giảm xuống còn 100.000 pound (45.000 kg). Yêu cầu thiết kế đã được gửi đến hầu hết các nhà sản xuất máy bay lớn của Vương quốc Anh: Handley Page, Armstrong Whitworth, Avro, Bristol, Short Brothers và English Electric.[12]

Vào ngày 30 tháng 4 năm 1947, Armstrong Whitworth, Avro, English Electric và Handley Page được mời nộp hồ sơ dự thầu thiết kế chính thức. Một hội nghị thiết kế dự thầu được tổ chức vào ngày 28 tháng 7 năm 1947 và quyết định đặt hàng thiết kế do Avro đệ trình, cùng với một mô hình bay nhỏ để thử nghiệm thiết kế cánh tam giác của nó. Hội nghị cũng quyết định nghiên cứu khái niệm cánh hình lưỡi liềm như một phương án dự phòng trong trường hợp thiết kế cánh tam giác được ưa chuộng bị thất bại. Cả thiết kế của Handley Page và Armstrong Whitworth đều được xem xét. Bộ Cung ứng đã hỗ trợ tài chính cho hãng Avro vào tháng 11 năm 1947. Một ủy ban tư vấn đã chọn thiết kế của Handley Page vào ngày 23 tháng 12 năm 1947, và nó cũng được cấp hỗ trợ tài chính.[13]
Cuộc họp ngày 17 tháng 12 năm 1946 cũng quyết định mời thầu một thiết kế bảo thủ hơn có thể được đưa vào sử dụng nhanh hơn và có thể đóng vai trò như một phương án bổ sung trong trường hợp cả hai thiết kế tiên tiến hơn. gặp trục trặc.[13] Kết quả là một thiết kế cực kỳ bảo thủ với cánh thẳng, Short Sperrin, trên thực tế chỉ là một chiếc Lincoln gắn động cơ phản lực.[14]
Trong khi đó, Vickers-Armstrong đã sản xuất một thiết kế cánh cụp , Vickers 660. Thiết kế này đã bị từ chối vì không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật B.35/46; nhưng hiệu suất ước tính của Sperrin đã khiến các quan chức tại Bộ Hàng không xem xét lại. Một yêu cầu kỹ thuật mới, B.9/48, đã được soạn thảo dựa trên thiết kế của Vickers-Armstrong,[15] được ban hành vào ngày 19 tháng 7 năm 1948. Một gói hỗ trợ vốn đã được dành cho Vickers-Armstrong tháng 4 năm 1948, sau đó là chế tạo thử hai nguyên mẫu tháng 2 năm 1949, trong khi Shorts chỉ được trao hợp đồng cho hai nguyên mẫu vào tháng 2 năm 1949. Nguyên mẫu đầu tiên của Vickers 660 bay vào ngày 18 tháng 5 năm 1951,[14] ba tháng trước khi nguyên mẫu đầu tiên của Sperrin bay lần đầu vào ngày 10 tháng 8 năm 1951. Do đã trở nên dư thừa, mẫu thiết kế của Sperrin đã bị hủy bỏ; chỉ có hai nguyên mẫu được chế tạo.[16]
Vickers-Armstrong đặt tên cho mẫu máy bay mới Vickers Valiant. Trước đây, máy bay ném bom được đặt tên theo các thành phố của Anh hoặc Khối Thịnh vượng chung, nhưng vào tháng 10 năm 1952, Bộ Không quân quyết định áp dụng các tên có vần điệu, với các thiết kế khác trở thành Avro Vulcan và Handley-Page Victor.[15][17] Đây chính là 3 loại máy bay tạo nên Phi đội máy bay ném bom hạt nhân V.
Như một giải pháp tạm thời, vào ngày 27 tháng 1 năm 1950, Không quân Anh đã mua máy bay ném bom Boeing B-29 Superfortress được Hoa Kỳ chuyển giao miễn phí theo Đạo luật Hỗ trợ Quốc phòng Tương trợ với Hoa Kỳ mới được thông qua. Do đó Bộ Không quân đã ngừng phát triển máy bay ném bom Sperrin. B-29 phục vụ trong RAF dưới tên gọi Washington B1.[18][19] RAF nhận được chiếc Boeing B-29 Superfortress đầu tiên vào ngày 22 tháng 3 năm 1950, và chiếc thứ 87 được giao vào tháng 6 năm 1952.[20] Đây là một máy bay động cơ piston, và mặc dù nó có tầm bay đến Liên Xô, nhưng nó không có khả năng mang vũ khí hạt nhân..[18][21] RAF đã lên kế hoạch sử dụng chúng để tấn công các căn cứ máy bay ném bom của Liên Xô. Những chiếc máy bay này đã gặp phải các vấn đề bảo trì do thiếu phụ tùng thay thế, và hầu hết đã được trả lại cho Hoa Kỳ từ tháng 7 năm 1953 đến tháng 7 năm 1954; bốn chiếc vẫn còn hoạt động cho đến năm 1958.[22] Vai trò của chúng được đảm nhiệm bởi máy bay ném bom phản lực cánh quạt English Electric Canberra.[18]
Trang bị
Thế hệ đầu tiên

Khi những quả bom nguyên tử Blue Danube đầu tiên do Anh chế tạo được chuyển đến căn cứ Không quân Wittering năm 1953,[23] Không quân Anh không có máy bay ném bom nào có khả năng mang được chúng.[24][25] Vickers Valiant được đưa vào sản xuất với tư cách là máy bay ném bom V đầu tiên vào năm 1955.[26] Mẫu máy bay này đi vào trang bị tháng 2 năm 1955,[27] Avro Vulcan đi vào biên chế tháng 5/1956 và Handley-Page Victor tháng 11/1957.[28] Đơn vị huấn luyện chuyển đổi số 232 (No. 232 Operational Conversion Unit) được thành lập tại căn cứ không quân Gaydon vào tháng 6 năm 1955 và việc huấn luyện phi hành đoàn bắt đầu.[29] Phi đội đầu tiên được trang bị Vickers Vickers Valiant là Phi đội số 138, được thành lập tại RAF Gaydon vào tháng 1 năm 1955,[30][28] tiếp theo là Phi đội số 543, được thành lập tại căn cứ không quân Gaydon vào ngày 1 tháng 6 năm 1955 trước khi chuyển đến căn cứ Wyton. Hai phi đội được trang bị Vickers Valiant nữa được thành lập tại căn cứ không quân Marham và căn cứ Honington vào năm 1956, và sáu phi đội nữa được thành lập liên tiếp nhanh chóng: Phi đội số 214 tại căn cứ không quân Marham vào tháng 3, Phi đội số 207 tại căn cứ không quân Marham và Phi đội số 49 tại căn cứ không quân Wittering vào tháng 5, Phi đội số 148 tại căn cứ không quân Marham vào tháng 7, Phi đội số 7 tại căn cứ không quân Honington vào tháng 11 và cuối cùng là Phi đội số 90 tại căn cứ không quân Honington vào tháng 1 năm 1957.[31]
Chiếc Vulcan XA895 được biên chế cho đơn vị huấn luyện số 230 (No. 230 Operational Conversion Unit) tại căn cứ không quân Wadđington tháng 1/1957, và việc huấn luyện các kíp bay Avro Vulcan được bắt đầu. Phi đội Vulcan đầu tiên, Phi đội số 83 , được thành lập tại căn cứ Waddington tháng 5/1957. Ban đầu, phi đội này sử dụng máy bay mượn từ Đơn vị Chuyển đổi Hoạt động số 230 cho đến khi nhận được chiếc Avro Vulcan đầu tiên ký hiệu XA905 ngày 11 tháng 7 năm 1957. Tiếp theo là Phi đội số 101, được thành lập tại căn cứ Finningley vào ngày 15 tháng 10 năm 1957.[32] Phi đội Vulcan thứ ba, Phi đội số 617 , được thành lập vào ngày 1 tháng 5 năm 1958 tại căn cứ không quân Scampton.[33] Đơn vị Chuyển đổi Hoạt động số 232 đã nhận được chiếc Handley-Page Victor đầu tiên vào ngày 29 tháng 11 năm 1957.[28] Phi đội đầu tiên vận hành Handley-Page Victor là Phi đội số 10, nhận máy bay ngày 9/4/1958 và được thành lập ngày 15/4. Tiếp sau đó là Phi đội số 15 thành lập ngày 1/11/1958, và Phi đội 57 được thành lập ngày 1/1/1959.[34]
Thế hệ thứ hai
Sự phát triển của các máy bay chiến đấu phản lực hiệu quả và hệ thống phòng không tên lửa hứa hẹn sẽ làm cho khả năng răn đe hạt nhân từ các máy bay ném bom bay ở độ cao lớn ngày càng kém hiệu quả. Vì các máy bay chiến đấu Mikoyan-Gurevich MiG-19 được đưa vào phục vụ trong Liên Xô có trần bay là 58.725 feet (17.899 m), nên máy bay ném bom V có thể tránh chúng bằng cách bay ở độ cao hơn 60.000 feet (18.000 m). Hai chục chiếc thuộc mẫu Vulcan mới, phiên bản B.2, với động cơ Bristol Olympus 201 công suất 17.000 lbf (76 kN), sải cánh lớn hơn một chút và hệ thống điện và điện tử mới đã được đặt hàng vào ngày 25 tháng 2 năm 1956. 17 chiếc máy bay còn lại từ đơn đặt hàng tháng 9 năm 1954 và 8 chiếc từ đơn đặt hàng tháng 3 năm 1955 đã được chuyển sang phiên bản B.2, nâng tổng số máy bay được đặt hàng lên 49 chiếc. Thêm 40 chiếc nữa được đặt hàng vào ngày 22 tháng 1 năm 1958. Một mẫu tiền sản xuất, XH533, bay thử lần đầu vào ngày 19 tháng 8 năm 1958, và trong một cuộc thử nghiệm vào ngày 4 tháng 3 năm 1959, nó đạt độ cao 61.500 feet (18.700 m). Cánh và động cơ mới cũng làm tăng tầm bay thêm 250 đến 300 dặm (400 đến 480 km). Chiếc B.2 sản xuất thứ hai, XH558, được giao cho Đơn vị Chuyển đổi Hoạt động số 230 vào ngày 1 tháng 7 năm 1960. Khi các máy bay Vulcan B.2 được đưa vào sử dụng, các máy bay B.1 đã được rút khỏi biên chế và nâng cấp lên tiêu chuẩn B.1A thông qua việc lắp đặt thêm thiết bị điện tử. Hầu hết công việc này được thực hiện bởi Armstrong Whitworth.[35][36]
Năm 1959, máy bay Handley-Page Victor B.1 được sửa đổi. Những sửa đổi này bao gồm việc bổ sung vòi tiếp nhiên liệu trên không, thiết bị đối phó điện tử (ECM) mới, radar cảnh báo đuôi , mép trước cánh được làm cong xuống và khoang lái được gia cố. Phiên bản sửa đổi này được gọi là Handley-Page Victor B.1A. Một phiên bản cải tiến của Victor cũng được lập trình với động cơ Armstrong Siddeley Sapphire 9, một phiên bản cải tiến của Sapphire 7 được sử dụng trong Victor B.1. Tuy nhiên, việc phát triển Sapphire 9 đã bị Bộ Cung ứng hủy bỏ vào tháng 2 năm 1956, và một cải tiến nhỏ cho Sapphire 7 vào tháng 3 năm 1956 đã tăng lực đẩy của nó lên 11.000 lbf (49 kN), vì vậy người ta quyết định xuất xưởng 25 trong số 33 chiếc Victor được đặt hàng vào tháng 5 năm 1955 với Sapphire 7. Tám chiếc còn lại, cùng với 18 chiếc Victor khác được đặt hàng vào tháng 1 năm 1956, được chế tạo dưới dạng Handley-Page Victor B.2, với động cơ Rolls-Royce Conway RCo.11 cung cấp lực đẩy 17.250 lbf (76,7 kN). Động cơ Conway mới yêu cầu thiết kế lại cửa hút gió lớn hơn để cung cấp luồng không khí lớn hơn cần thiết, và sải cánh được mở rộng từ 110 lên 120 feet (34 đến 37 m). Giống như trên Avro Vulcan, hệ thống điện một chiều (DC) được thay thế bằng hệ thống điện xoay chiều (AC ).[43] Nguyên mẫu Handley-Page Victor B.2, XH668, bay lần đầu vào ngày 20 tháng 2 năm 1959, nhưng đã bị mất tích trên Biển Ireland vào ngày 20 tháng 8. Chiếc B.2 sản xuất đầu tiên, XL188, được giao vào ngày 2 tháng 11 năm 1961, và Phi đội số 139 trở thành phi đội Victor B.2 đầu tiên vào ngày 1 tháng 2 năm 1962.[37]
Lực lượng máy bay ném bom V đạt đỉnh điểm vào tháng 6 năm 1964, khi có 50 chiếc Vickers Valiant, 70 chiếc Avro Vulcan và 39 chiếc Handley-Page Victor trong biên chế của Không quân Anh.[38] Nhìn lại, quyết định tiếp tục duy trì tới ba loại máy bay ném bom hạt nhân là điều đáng nghi vấn. Hóa ra, tất cả các vai trò đều có thể được thực hiện bởi Vickers Valiant, với phiên bản B.2 của nó được thiết kế đặc biệt cho các hoạt động ở độ cao thấp là yêu cầu rất quan trọng sau này.[39] Hơn nữa, lý do để sản xuất cả 2 loại máy bay ném bom Vulcan và Victor đã không còn ngay từ đầu. Lý do để sản xuất Victor B.2 thay vì tập trung vào Vulcan B.2 đặc biệt đáng ngờ, và Thượng tướng Không quân Sir Harry Broadhurst cho rằng đó là do sự vận động hành lang của Sir Frederick Handley Page, mong muốn giữ lại việc làm trong ngành hàng không, và vì chính phủ muốn sản xuất động cơ Rolls-Royce Conway cho máy bay chở khách Vickers VC10.[40]
Nhiệm vụ tấn công hạt nhân
Chính phủ Anh nhận thức rõ về sự tàn phá mà một cuộc chiến tranh hạt nhân sẽ gây ra. Một báo cáo năm 1953 ước tính rằng một cuộc tấn công vào Vương quốc Anh với 132 vũ khí phân hạch sẽ gây ra 2 triệu thương vong.[41] Vì việc phòng thủ là không khả thi, Vương quốc Anh đã chuyển sang chính sách răn đe, bằng cách nhắm mục tiêu vào các trung tâm dân cư và hành chính của Liên Xô.[42] Năm 1957, Bộ Không quân đã lập danh sách 131 thành phố của Liên Xô có dân số từ 100.000 người trở lên. Trong số này, 98 thành phố nằm trong phạm vi 2.100 hải lý (3.900 km) tính từ Vương quốc Anh.[43] Trong số này, 44 thành phố đã được chọn. Người ta ước tính rằng việc phá hủy chúng sẽ giết chết khoảng 30% dân số đô thị của Liên Xô, với khoảng 38 triệu người.[44]
Ngay từ năm 1946,[45] kế hoạch của Mỹ dự kiến sử dụng Vương quốc Anh làm căn cứ cho các cuộc tấn công hạt nhân vào Liên Xô, vì Không quân Hoa Kỳ (USAF) vẫn chưa có các máy bay ném bom tầm xa có thể tấn công các mục tiêu quan trọng ở Liên Xô từ các căn cứ ở Hoa Kỳ. Nhưng chiến lược của Hoa Kỳ là các cuộc tấn công vào các trung tâm dân cư sẽ có ít giá trị một khi chiến tranh thực sự bắt đầu, và ưu tiên các mục tiêu quân sự, đặc biệt là những mục tiêu chiến lược mà từ đó vũ khí hạt nhân có thể được phóng hoặc triển khai.[46]
Việc phối hợp các kế hoạch chiến tranh giữa Bộ Tư lệnh Máy bay ném bom Không quân Hoàng gia Anh và Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược Hoa Kỳ (SAC) rõ ràng là điều cần thiết, và một kế hoạch tiến hành chiến tranh hạt nhân chung đã được đàm phán từ năm 1954 đến năm 1958.[47] Lực lượng hạt nhân của RAF có khả năng phá hủy các mục tiêu quan trọng trước khi máy bay ném bom của Hoa Kỳ tiến vào không phận Liên Xô, "có tính đến khả năng của Bộ Tư lệnh Máy bay ném bom nhắm mục tiêu vào đợt tấn công đầu tiên trước lực lượng SAC chính hoạt động từ các căn cứ ở Hoa Kỳ vài giờ."[48] Dựa trên giả định rằng Bộ Tư lệnh Máy bay ném bom RAF sẽ có khoảng 100 máy bay ném bom mang bom hạt nhân triển khai vào năm 1959, thỏa thuận SAC/RAF đã chỉ định 106 mục tiêu do Không quân Anh đảm trách: 69 thành phố, 17 căn cứ máy bay ném bom tầm xa và 20 căn cứ phòng không. Các cuộc tấn công vào các cơ sở phòng không sẽ dọn đường cho các đợt máy bay ném bom của Không quân Chiến lược Hoa Kỳ. Kế hoạch được cập nhật hàng năm; khi khả năng của Liên Xô tăng lên, trọng tâm được đặt nhiều hơn vào việc tấn công các sân bay và căn cứ tên lửa.[49]
Thử nghiệm hạt nhân


Phi đội Vickers Valiant đặc biệt số 1321, được thành lập tại căn cứ Wittering vào ngày 3 tháng 8 năm 1954[50] đã tiến hành các cuộc thử nghiệm đạn đạo với bom huấn luyện Blue Danube. Nó trở thành Phi đội C của Phi đội số 138 vào tháng 3 năm 1956 và Phi đội số 49 vào ngày 1 tháng 5 năm 1956.
Sau đó, Vickers Valiant WZ366 và WZ367 được đưa đến căn cứ Maralinga, Nam Úc cho Chiến dịch Buffalo. Vickers Valiant B.1 WZ366 của Phi đội số 49 trở thành máy bay đầu tiên của Không quân Anh thả bom nguyên tử thành công trong cuộc thử nghiệm bom Blue Danube tại Maralinga vào ngày 11 tháng 10 năm 1956. Quả bom rơi cách mục tiêu khoảng 100 thước (91 m) về bên trái và 60 thước (55 m) trước mục tiêu. Phi công là Thiếu tá Edwin Flavell, và người ngắm bom là Trung úy Eric Stacey, cả hai đều được trao tặng Huân chương Chữ thập Không quân.[51][52][53]
Vào ngày 15 tháng 5 năm 1957, chiếc Vickers Valiant B.1 XD818 do Trung tá Kenneth Hubbard điều khiển đã thả quả bom hydro đầu tiên của Anh mang biệt danh "Short Granite" xuống Thái Bình Dương trong khuôn khổ của Chiến dịch Grapple.[54] Phi đội số 49 được chọn để thực hiện việc thả vũ khí thật và được trang bị những chiếc Vickers Valiant được sửa đổi đặc biệt để phù hợp với các yêu cầu khoa học của các cuộc thử nghiệm và các biện pháp phòng ngừa khác để bảo vệ chống lại nhiệt và bức xạ.[55] Cuộc thử nghiệm phần lớn là một thất bại, vì sản lượng đo được ít hơn một phần ba so với mức tối đa dự kiến và thiết bị đã không đạt được vụ nổ nhiệt hạch như dự định. Phải đến ngày 8 tháng 11 năm 1957, Anh mới thực hiện thả bom hydro thành công.[56] Loạt thử nghiệm Grapple tiếp tục đến năm 1958, và quả bom Grapple Y đã phát nổ vào tháng 4 năm 1958 với đương lượng nổ gấp mười lần so với "Short Granite".[57] Việc thử nghiệm cuối cùng đã chấm dứt vào tháng 11 năm 1958 khi chính phủ Anh ngừng thử nghiệm trong khí quyển.[58]
Project E
Khi việc sản xuất máy bay ném bom V tăng lên, số lượng máy bay ném bom đã vượt quá số lượng vũ khí hạt nhân sẵn có của Anh. Anh chỉ có 10 quả bom hạt nhân vào năm 1955 và chỉ 14 quả vào năm 1956.[42] Để bù đắp sự thiếu hụt, vũ khí hạt nhân của Mỹ đã được mua thông qua Dự án E. Vì chúng nằm trong sự quản lý của Mỹ, nên RAF không thể tự ý sử dụng chúng để răn đe hạt nhân.[59][60] Vulcan và Victor được trang bị bom Blue Danube, Red Beard, Violet Club và Yellow Sun do Anh sản xuất, cả phiên bản Mk 1 và Mk 2.[61] Việc sửa đổi để trang bị bom trên cả máy bay ném bom Vickers Valiant đã được bắt đầu tháng 2 năm 1956. Việc huấn luyện phi hành đoàn được thực hiện tại căn cứ Boscombe Down.[62]
Lực lượng máy bay ném bom V theo kế hoạch đã bị giảm xuống còn 144 máy bay, và người ta dự định trang bị cho một nửa trong số đó vũ khí của Project E.[63] 28 chiếc Vickers Valiant đầu tiên đã được sửa đổi vào tháng 10 năm 1957; 20 chiếc Vickers Valiant còn lại, cùng với 24 chiếc Vulcan, đã sẵn sàng vào tháng 1 năm 1959.[62] Theo Biên bản ghi nhớ Project E, nhân viên Hoa Kỳ nắm quyền kiểm soát vũ khí. Điều đó có nghĩa là họ thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến việc lưu trữ, bảo trì và sẵn sàng của vũ khí hạt nhân. Mặc dù bom được đặt tại cùng các căn cứ với máy bay ném bom, nhưng chúng được lưu trữ trong Khu vực Lưu trữ An toàn (SSA) mà nhân viên Anh không được phép vào. Do đó, không thể lưu trữ bom của Anh và Mỹ cùng nhau trong cùng một SSA. Bộ Tư lệnh Máy bay ném bom đã chỉ định RAF Marham, RAF Waddington và RAF Honington là các căn cứ có triển khai SSA của Hoa Kỳ. Ba địa điểm khác triển khai SSA của Anh.[64] Quyền kiểm soát của Hoa Kỳ đã tạo ra các vấn đề hoạt động. Quy trình bàn giao bom đã thêm mười phút vào thời gian phản ứng của máy bay ném bom,[65] và yêu cầu nhân viên Hoa Kỳ phải luôn giám sát vũ khí có nghĩa là cả họ lẫn máy bay ném bom đều không thể được di dời đến các sân bay phân tán như RAF yêu cầu.[66]
Ban đầu, 72 quả bom hạt nhân Mark 5 được cung cấp cho máy bay ném bom V.[67][68] Chúng có sức công phá lên tới 100 kiloton TNT (420 TJ).[69] Sự phát triển thành công của bom hydro ở Anh và bối cảnh quan hệ quốc tế thuận lợi do cuộc khủng hoảng Sputnik gây ra đã dẫn đến việc Đạo luật Năng lượng Nguyên tử Hoa Kỳ được sửa đổi một lần nữa vào năm 1958, dẫn đến việc nối lại Mối quan hệ Đặc biệt về hạt nhân giữa Anh và Hoa Kỳ dưới hình thức Hiệp định Phòng thủ Tương trợ Hoa Kỳ-Anh năm 1958..[70] Nhờ thỏa thuận này mà Hoa Kỳ đồng ý cung cấp cho máy bay ném bom V các loại bom hạt nhân Mark 15 và Mark 39, có đương lượng nổ cỡ megaton thay cho Mark 5,[62][67] Bộ Tài Chính Anh đã ngay lập tức đưa ra câu hỏi liệu chương trình phát triển bom nhiệt hạch có đương lượng nổ cỡ megaton của Anh có bị hủy bỏ.[71] Câu trả lời là không; những hạn chế hoạt động do Project E áp đặt "thực chất đã trao cho chính phủ Hoa Kỳ quyền quyết định đối với việc sử dụng một nửa lực lượng răn đe hạt nhân của Anh".[72][71]
Hội đồng Không quân đã quyết định vũ khí hạt nhân trong Project E sẽ được loại bỏ dần vào tháng 12 năm 1962, vào thời điểm đó người ta dự đoán rằng Anh sẽ có đủ vũ khí hạt nhân cỡ megaton để trang bị cho toàn bộ lực lượng máy bay ném bom chiến lược của mình.[73] Vũ khí của Anh tương đương là bom Yellow Sun đã được đưa vào thay thế vũ khí của Mỹ tại căn cứ Honington vào ngày 1 tháng 7 năm 1961 và Waddington vào ngày 30 tháng 3 năm 1962.[74] Các vấn đề gặp phải trong quá trình phát triển bom Red Beard khiến việc thay thế vũ khí đương lượng nổ cỡ kiloton mất nhiều thời gian hơn.[71] Phi đội máy bay Vickers Valiant ở căn cứ không quân Honington và Wittering đã được rút khỏi biên chế vào tháng 4 và tháng 10 năm 1962,[75] và những chiếc Vickers Valiant cuối cùng đã bị loại biên khỏi phi đội răn đe hạt nhân vào tháng 7 năm 1965.[76][77]
Tấn công tầm thấp
Cách thức tấn công hạt nhân bằng máy bay ném bom chiến lược dường như đã trở nên lỗi thời với sự xuất hiện của Mikoyan-Gurevich MiG-21, mà Nigel Birch , Bộ trưởng Không quân và các sĩ quan cấp cao của RAF đã tận mắt chứng kiến khi dự triển lãm hàng không tại sân bay Tushino vào ngày 24 tháng 6 năm 1956. Các thiết kế của Liên Xô thường mất vài năm để đưa vào biên chế; nhưng trần bay 65.610 feet (20.000 m) của MiG-21 đã đặt ra mối đe dọa rõ ràng đối với các máy bay ném bom hạt nhân chiến lược của Anh. Tương tự như vậy là các tên lửa đất đối không S-75 Dvina mới, xuất hiện vào năm 1957. S-75 Dvina đã bắn hạ một chiếc Lockheed U-2 của Mỹ do Francis Gary Powers điều khiển trên không phận Liên Xô vào ngày 1 tháng 5 năm 1960. Năm 1957, dự án máy bay ném bom siêu âm Avro 730 đã bị hủy bỏ. Điều này đã giải phóng nguồn vốn cho chương trình tên lửa Blue Streak,[78] nhưng nó cũng bị hủy bỏ vào ngày 24 tháng 2 năm 1960.[79][80] Để đối phó, một Yêu cầu Hoạt động (OR1132) đã được ban hành vào ngày 3 tháng 9 năm 1954 để phát triển một tên lửa tầm xa phóng từ trên không, tầm bắn 100 hải lý (190 km) có thể được phóng từ máy bay ném bom V. Tên lửa mới sau này được đặt tên là Blue Steel. Bộ Cung ứng đã ký hợp đồng phát triển tên lửa với Avro vào tháng 3 năm 1956, và nó đi vào biên chế Không quân Anh vào tháng 12 năm 1962.[81]

Vào thời điểm này, người ta dự đoán rằng ngay cả với Blue Steel, năng lực phòng không của Liên Xô sẽ khiến máy bay ném bom V không đủ khả năng để tiếp cận mục tiêu và do đó tên lửa Blue Steel Mark II được phát triển với tầm bắn ít nhất đạt 600 hải lý (1.100 km).[82] đây là một tên lửa hoàn toàn mới, chứ không phải là sự phát triển dựa trên phiên bản Mark I.[83] Bộ trưởng Hàng không , Duncan Sandys , nhấn mạnh rằng ưu tiên phải được dành cho việc đưa Mark I vào biên chế,[82] và tên lửa Mark II đã bị hủy bỏ vào cuối năm 1959.[83] Cần phải sửa đổi đáng kể để cho phép máy bay Victor mang Blue Steel. Những sửa đổi này bao gồm những thay đổi về cấu trúc đối với khoang chứa bom. Động cơ Conway RCo.17 mới với công suất 20.600 lbf (92 kN) đã được lắp đặt, cùng với hệ thống đánh lửa buồng đốt để cho phép cả bốn động cơ máy bay được khởi động đồng thời và giảm thời gian cất cánh xuống còn 1+1⁄2 phút cho mỗi máy bay. Tổng cộng 23 máy bay Victor B.2 đã được nâng cấp lên tiêu chuẩn mới, và hai chiếc nữa được chế tạo theo tiêu chuẩn mới.[84]
Chính phủ Anh sau đó chuyển sang sử dụng GAM-87 Skybolt, một tên lửa đạn đạo phóng từ máy bay của Mỹ kết hợp tầm bắn của Blue Streak với khả năng cơ động của Blue Steel, và đủ nhỏ để có thể mang hai tên lửa trên máy bay ném bom Vulcan.[85] Được trang bị đầu đạn Red Snow, điều này sẽ cải thiện khả năng của lực lượng máy bay ném bom V của Vương quốc Anh và kéo dài tuổi thọ hữu ích của nó đến cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970.[86] Nội các Ủy ban Quốc phòng Anh đã phê duyệt việc mua Skybolt vào tháng 2 năm 1960.[87] Các máy bay Vulcan B.2 đã được sửa đổi để mang một cặp tên lửa Skybolt. Chúng được trang bị động cơ Bristol Olympus 301 với lực đẩy 20.000 lbf (89 kN), cánh được gia cố và hai điểm gắn đặc biệt. Một đầu đạn của Anh được thiết kế để lắp vào chóp mũi của Skybolt, và các cuộc thử nghiệm bắn giả đã được thực hiện tại căn cứ không quân West Freugh bắt đầu vào ngày 9 tháng 12 năm 1961.[88][89] Khác với Vulcan, người ta không thể điều chỉnh lại máy bay ném bom Handley Page Victor để mang tên lửa GAM-87 .[88][90] Dự án đã bị dừng đột ngột khi chính phủ Hoa Kỳ hủy bỏ Skybolt vào ngày 31 tháng 12 năm 1962.[91] Nhằm thay thế tên lửa Skybolt, Thủ tướng Anh Harold Macmillan, đã đàm phán Hiệp định Nassau với Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy vào ngày 3 tháng 1 năm 1963, theo đó Hoa Kỳ đồng ý cung cấp cho Vương quốc Anh tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm UGM-27 Polaris để thay thế. Nhưng phải mất thêm sáu năm nữa trước khi tàu ngầm Hải quân Anh được chế tạo và Hải quân Anh có thể tiếp quản vai trò răn đe hạt nhân.[92]

Đến năm 1963, Không quân Hoàng gia Anh (RAF) tin chắc rằng, để có thể xuyên qua mạng lưới phòng không của Liên Xô, các máy bay ném bom hạt nhân phải tấn công ở độ cao thấp. Ở độ cao dưới 3.000 foot (910 m), radar hoạt động kém hiệu quả hơn do nhiễu sóng từ mặt đất. Đồng thời các máy bay ném bom cũng được trang bị các thiết bị tác chiến điện tử mới, thiết bị định vị mặt đất và radar bám địa hình. Các cuộc thử nghiệm được thực hiện ở Anh và tại Woomera đã chứng minh rằng máy bay có thể phóng tên lửa Blue Steel từ độ cao thấp. Trong khi đó, để thả bom hạt nhân rơi tự do Yellow Sun Mark 2, và máy bay ném bom V sẽ phải bay lên độ cao trung bình. Một loại bom mới, WE.177, đã được phát triển. Việc chuyển giao bom WE.177B đương lượng nổ 450 kiloton TNT (1.900 TJ) bắt đầu vào tháng 9 năm 1966.[93][94] Thông qua dự án E, đã dẫn đến việc ra mắt loại bom nhẹ hơn là Red Beard, được trang bị vào năm 1960, đến giữa những năm 1960, máy bay Canberra và Không quân Hải quân Hoàng gia đã có thể mang vũ khí hạt nhân,[95] nhưng sức mạnh của chúng không đáng kể so với máy bay ném bom Handley Page Victor và Avro Vulcan.[96]

Các sứ mệnh ném bom thông thường
Khủng hoảng Suez
Máy bay ném bom V đầu tiên được sử dụng trong chiến đấu với bom thông thường là Vickers Valiant trong Chiến dịch Musketeer, phản ứng quân sự của Anh-Pháp trong Khủng hoảng Kênh đào Suez năm 1956. Đó là lần đầu tiên và duy nhất Vickers Valiant thực hiện thả bom trong các hoạt động chiến đấu.[97] Các đơn vị RAF bắt đầu triển khai đến Malta vào tháng 9 năm 1956, và khi Israel tấn công Ai Cập vào ngày 29 tháng 10 năm 1956, bốn phi đội Vickers Valiant—Phi đội số 138, 148, 207 và 214—đóng quân tại RAF Luqa.[98] Phi đội số 138 là phi đội duy nhất có đủ tám chiếc Vickers Valiant; Phi đội số 148 và 207 mỗi phi đội có sáu chiếc, và Phi đội số 214 chỉ có bốn chiếc.[97] Mục tiêu ban đầu là vô hiệu hóa Không quân Ai Cập , được cho là có khoảng 100 máy bay chiến đấu phản lực Mikoyan-Gurevich MiG-15 và 30 máy bay ném bom phản lực hai động cơ Ilyushin Il-28. Hệ thống radar cảnh báo sớm của Ai Cập được biết là không hoạt động do thiếu bảo trì và phụ tùng thay thế, vì vậy các máy bay ném bom được lệnh hoạt động vào ban đêm khi hệ thống phòng thủ bằng kính ngắm quang học sẽ kém hiệu quả nhất.[98] Điều này có nghĩa là quay trở lại chiến thuật được Bộ Tư lệnh Máy bay ném bom sử dụng trong Thế chiến thứ hai. Phi đội Vickers Valiant không được huấn luyện cũng như trang bị cho nhiệm vụ kiểu như vậy. Không phải tất cả các máy bay Valiant đều được trang bị Hệ thống Điều hướng và Ném bom (NBS) và nó cũng không hoạt động được ở tất cả những chiếc được trang bị. Điều này buộc phải quay trở lại kính ngắm bom bằng quang học. Các máy bay Valiant và Canberra được trang bị hệ thống dẫn đường vô tuyến Gee-H, nhưng nó không thể được sử dụng vì không có đèn hiệu nào ở Trung Đông. Tuy nhiên, Valiant cũng được trang bị radar Green Satin, vẫn có thể sử dụng được.[99]
Nhiệm vụ đầu tiên được thực hiện vào ngày 31 tháng 10, phối hợp với máy bay ném bom Canberra từ căn cứ Malta và Cyprus. Mục tiêu là năm căn cứ không quân Ai Cập ở khu vực Cairo, bao gồm Căn cứ Không quân Tây Cairo. Vào phút cuối, người ta phát hiện ra rằng 15 máy bay vận tải của Mỹ đang ở sân bay Tây Cairo để sơ tán dân thường, và mục tiêu phải được thay đổi trong khi máy bay ném bom đã ở trên không. Máy bay Vickers Valiant đánh dấu mục tiêu, sau đó máy bay Canberra thả pháo sáng để chiếu sáng khu vực mục tiêu. Điều này cho phép các máy bay Canberra khác thả bom chính xác xuống đường băng. Chiến thuật này được lặp lại trong các cuộc tấn công vào bốn sân bay ở Đồng bằng sông Nile và tám sân bay ở khu vực Kênh đào Suez trong hai đêm tiếp theo. Nhiệm vụ cuối cùng của Vickers Valiant được thực hiện vào ngày 3 tháng 11 thả bom cảng El Agami, được cho là một kho sửa chữa tàu ngầm. Tổng cộng có 450 tấn (460 t) bom đã được thả,[98] một nửa trong số đó đã rơi trong vòng 650 thước (590 m) so với mục tiêu ném bom.[100] Kết quả không mấy ấn tượng. Ba trong số bảy căn cứ không quân chính của Ai Cập vẫn hoạt động đầy đủ, một căn cứ có đường băng bị rút ngắn và một căn cứ có ba hố bom cần được san lấp. Căn cứ không quân duy nhất bị ngừng hoạt động hoàn toàn là Tây Cairo.[98]
Chiến tranh Falklands

Trong Chiến tranh Falklands năm 1982, máy bay ném bom Avro Vulcan từ Phi đội số 44, 50 và 101, được hỗ trợ bởi máy bay tiếp nhiên liệu Victor từ Phi đội số 55 và 57, đã thực hiện một loạt bảy nhiệm vụ ném bom tầm xa cực kỳ quan trọng nhằm vào các vị trí của Argentina ở Quần đảo Falkland. Chiến dịch này có mật danh là Black Buck. Mục tiêu của các nhiệm vụ là tấn công Sân bay Port Stanley và các công trình phòng thủ liên quan.[101] Mặc dù máy bay Avro Vulcan có khả năng mang theo đạn dược thông thường, nhưng điều này đã không được chú ý thực hiện trong một thời gian dài. Để mang theo 21 quả bom 1.000 pound (450 kg), máy bay Avro Vulcan cần ba bộ giá đỡ bom, mỗi bộ chứa 7 quả bom. Việc thả bom được điều khiển bởi một bảng điều khiển tại trạm của hoa tiêu, giám sát các kết nối điện với mỗi quả bom và được cho là có tới 90 trình tự khác nhau để thả bom.[102] Việc huấn luyện phi hành đoàn về ném bom thông thường và tiếp nhiên liệu trên không được thực hiện từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 4 năm 1982.[103]
Các cuộc không kích, với tầm bay gần 6.800 hải lý (12.600 km ) và thời gian bay khứ hồi 15 giờ, là những cuộc không kích tầm xa nhất trong lịch sử vào thời điểm đó. Các cuộc không kích Black Buck được thực hiện từ căn cứ không quân đảo Ascension, gần xích đạo. Máy bay Avro Vulcan thiếu tầm bay cần thiết để bay đến quần đảo Falklands mà không cần tiếp nhiên liệu nhiều lần, cũng như các máy bay tiếp nhiên liệu Victor được cải tiến, vì vậy chúng cũng phải được tiếp nhiên liệu trên không. Cần 11 máy bay tiếp nhiên liệu cho hai máy bay Avro Vulcan, một nỗ lực hậu cần khổng lồ vì tất cả các máy bay đều phải sử dụng cùng một đường băng. Máy bay mang theo 21 quả bom 1.000 pound (450 kg) bên trong hoặc hai hoặc bốn tên lửa chống radar AGM-45 Shrikebên ngoài. Trong số năm cuộc không kích Black Buck được thực hiện thành công, ba cuộc nhằm vào đường băng và các cơ sở hoạt động của sân bay Stanley, và hai cuộc tấn công còn lại nhằm vào radar 3D tầm xa Westinghouse AN/TPS-43 bằng tên lửa AGM-45 Shrike trong khu vực cảng Stanley.[101][104]
Loại biên Vickers Valiant
Tháng 7 năm 1964, một chiếc Vickers Valiant thuộc Phi đội 543 (WZ394) đang làm nhiệm vụ tại Rhodesia bị phát hiện có vết nứt ở thanh giằng cánh sau và được đưa trở về Anh để sửa chữa. Tháng sau, một chiếc Vickers Valiant thuộc Đơn vị Chuyển đổi Hoạt động 232 (WP217) bị hỏng thanh giằng cánh trong một cuộc tập trận trên bầu trời xứ Wales. Toàn bộ phi đội Vickers Valiant đã được kiểm tra, và nhiều chiếc được phát hiện có vết nứt đáng kể ở thanh giằng cánh. Những chiếc được cho là ít hoặc không bị hư hại được phép bay, nhưng bị giới hạn tạm thời về tốc độ tối đa 250 hải lý/giờ (460 km/h), tải trọng tối đa 0,5 g0 (4,9 m/s2), và góc nghiêng tối đa 30 độ. Các kỹ sư Vickers phát hiện ra rằng thiệt hại nghiêm trọng hơn so với dự kiến ban đầu, và toàn bộ phi đội đã bị đình chỉ hoạt động vào ngày 9 tháng 12 năm 1964 và rút khỏi biên chế. Ban đầu người ta cho rằng việc chuyển sang bay ở độ cao thấp là nguyên nhân, nhưng các vết nứt cũng được tìm thấy trong những chiếc Valiant đang hoạt động với tư cách là máy bay tiếp nhiên liệu và trinh sát chiến lược, và chưa từng bay ở độ cao thấp. Sau đó, nghi ngờ đổ dồn vào hợp kim nhôm đã được sử dụng, DTD683. Một chiếc Valiant (XD816) vẫn được sử dụng làm máy bay thử nghiệm, sau khi được thay thế khung sườn.[105]
Di sản
ngày 8 tháng 2 năm 2007, Bảo tàng Không quân Hoàng gia Midlands đã khai trương Triển lãm Chiến tranh Lạnh Quốc gia tại RAF Cosford ở Shropshire để kể câu chuyện về Chiến tranh Lạnh. Triển lãm này lần đầu tiên quy tụ các mô hình tĩnh của cả ba loại máy bay ném bom V tại một địa điểm. Theo tổng giám đốc bảo tàng, Tiến sĩ Michael A. Fopp, mục tiêu là "mọi người sẽ ra về với cảm giác hiểu biết hơn về những gì đã xảy ra trong nửa sau của thế kỷ 20."[106]
Vulcan XH558 (Số đăng ký dân sự G-VLCN), bay cho đến tháng 10 năm 2015, được tài trợ bởi các khoản quyên góp của công chúng. Nó được trưng bày tại các triển lãm hàng không và các sự kiện. Nó sẽ được sử dụng như một minh chứng về kỹ thuật hàng không của Anh vào thời kỳ chiến tranh Lạnh.[107]

Vào ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại Bảo tàng Chiến tranh Hoàng gia Duxford, chiếc Victor XH648 đã được trưng bày sau 8 năm phục chế tại bảo tàng - được tài trợ bởi các khoản quyên góp từ công chúng - với chi phí 450.000 bảng Anh. Các cựu chiến binh từng lái chiếc máy bay này đã được mời đến buổi ra mắt chính thức tại bảo tàng trước khi nó được đưa ra trưng bày cho công chúng. Hiện tại, nó đang được trưng bày trong nhà chứa máy bay AirSpace tại bảo tàng.[108]
Ghi chú
- ^ Brookes 1982, tr. 14.
- ^ Wynn 1997, tr. 1–2.
- ^ Wynn 1997, tr. 27–28.
- ^ Gowing 1964, tr. 108–111.
- ^ Jones 2017, tr. 1–2.
- ^ Gowing 1964, tr. 94–95.
- ^ Gowing & Arnold 1974, tr. 181–184.
- ^ Cathcart 1995, tr. 23–24, 48, 57.
- ^ Jones 2017, tr. 25.
- ^ McLelland 2013, tr. 52–53.
- ^ Wynn 1997, tr. 44–45.
- ^ McLelland 2013, tr. 54.
- ^ a b Wynn 1997, tr. 46–48.
- ^ a b McLelland 2013, tr. 56–66.
- ^ a b McLelland 2013, tr. 66–68.
- ^ Wynn 1997, tr. 50–53.
- ^ Wynn 1997, tr. 56.
- ^ a b c Brookes 1982, tr. 32–33.
- ^ Suit 1995, tr. 103–104.
- ^ Suit 1995, tr. 105–106.
- ^ Suit 1995, tr. 103–104, 109–110.
- ^ Suit 1995, tr. 108–109.
- ^ Wynn 1997, tr. 92.
- ^ Gowing & Arnold 1974, tr. 234–235.
- ^ Baylis 1995, tr. 180.
- ^ Wynn 1997, tr. 52–54.
- ^ Wynn 1997, tr. 115.
- ^ a b c "Royal Air Force History, 1950–1959". Royal Air Force. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2009.
- ^ Jackson 1981, tr. 19.
- ^ Rawlings 1985, tr. 189-190.
- ^ Jackson 1981, tr. 24.
- ^ Jackson 1981, tr. 51.
- ^ Jackson 1981, tr. 54.
- ^ Jackson 1981, tr. 79.
- ^ Brookes 1982, tr. 85–87.
- ^ Jackson 1981, tr. 58.
- ^ Jackson 1981, tr. 80–83.
- ^ "The Cabinet Papers - Glossary - V". UK National Archives. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2018.
- ^ McLelland 2013, tr. 107.
- ^ Brookes 1982, tr. 98–99.
- ^ Young 2007b, tr. 8–9.
- ^ a b Young 2007b, tr. 11–12.
- ^ Wynn 1997, tr. 276.
- ^ Baylis 2005, tr. 55–56.
- ^ Young 2007a, tr. 119–120.
- ^ Young 2007b, tr. 24–25.
- ^ Wynn 1997, tr. 270–274.
- ^ Wynn 1997, tr. 275.
- ^ Young 2007b, tr. 24–27.
- ^ Wynn 1997, tr. 598.
- ^ Brookes 1982, tr. 74.
- ^ Wynn 1997, tr. 170–173.
- ^ "No. 40960". The London Gazette (1st supplement). ngày 28 tháng 12 năm 1956. tr. 36.
- ^ "Individual History Vickers Valiant B (K) Mk.I XD818/7894M Museum Accession Number 1994/1352/A" (PDF). Royal Air Force Museum. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2015.
- ^ Hubbard & Simmons 2008, tr. 61, 68.
- ^ Hubbard & Simmons 2008, tr. 157.
- ^ Hubbard & Simmons 2008, tr. 167.
- ^ Arnold & Pyne 2001, tr. 189–191.
- ^ McLelland 2013, tr. 158–160.
- ^ Bronk 2014, tr. 977–978.
- ^ Finn & Berg 2004, tr. 55.
- ^ a b c Young 2016, tr. 212.
- ^ Bronk 2014, tr. 980.
- ^ Bronk 2014, tr. 978–980.
- ^ Bronk 2014, tr. 985.
- ^ Wynn 1997, tr. 262–263.
- ^ a b Wynn 1997, tr. 264–265.
- ^ Moore 2010, tr. 114, 256.
- ^ Moore 2010, tr. 114.
- ^ a b c Young 2016, tr. 213–214.
- ^ Young 2007b, tr. 994.
- ^ Wynn 1997, tr. 266–267.
- ^ Moore 2010, tr. 114, 210.
- ^ Moore 2010, tr. 214.
- ^ Wynn 1997, tr. 494–500.
- ^ Wynn 1997, tr. 269.
- ^ Brookes 1982, tr. 88–90.
- ^ Wynn 1997, tr. 397.
- ^ Moore 2010, tr. 48.
- ^ Wynn 1997, tr. 186–191.
- ^ a b Wynn 1997, tr. 197–199.
- ^ a b Moore 2010, tr. 107.
- ^ Brookes 1982, tr. 128.
- ^ Moore 2010, tr. 47–48.
- ^ Harrison 1982, tr. 27.
- ^ Young 2002, tr. 72.
- ^ a b Brookes 1982, tr. 117–118.
- ^ McLelland 2013, tr. 156.
- ^ Young 2004, tr. 626.
- ^ Roman 1995, tr. 218.
- ^ McLelland 2013, tr. 170–171.
- ^ McLelland 2013, tr. 173–175.
- ^ Baylis 1995, tr. 350–351.
- ^ Moore 2010, tr. 113–116.
- ^ Brown 1964, tr. 293.
- ^ a b Wynn 1997, tr. 129–130.
- ^ a b c d Brookes 1982, tr. 72–73.
- ^ Wynn 1997, tr. 131–132.
- ^ Wynn 1997, tr. 133.
- ^ a b Burden và đồng nghiệp 1986, tr. 363–365.
- ^ White 2012, tr. 126–127.
- ^ Burden và đồng nghiệp 1986, tr. 363.
- ^ "Operation Black Buck". Royal Air Force. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2013.
- ^ McLelland 2013, tr. 101–103.
- ^ "Cold War history exhibition opens". BBC News Channel. ngày 8 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018.
- ^ "Vulcan to the Sky Trust". Vulcan to the Sky Trust. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018.
- ^ "Handley Page Victor: XH648". Imperial War Museum. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.
Tham khảo
- Arnold, Lorna; Pyne, Katherine (2001). Britain and the H-bomb. Houndmills, Basingstoke, Hampshire; New York: Palgrave. ISBN 978-0-230-59977-2. OCLC 753874620.
- Baylis, John (1995). Ambiguity and Deterrence: British Nuclear Strategy 1945–1964. Oxford: Clarendon Press. ISBN 978-0-19-828012-5. OCLC 861979328.
- Baylis, John (Spring 2005). "British Nuclear Doctrine: The 'Moscow Criterion' and the Polaris Improvement Programme". Contemporary British History. 19 (1): 53–65. doi:10.1080/1361946042000303855. S2CID 143469175.
- Bronk, Justin (2014). "Britain's 'Independent' V-Bomber Force and US Nuclear Weapons, 1957–1962". Journal of Strategic Studies. 37 (6–7): 974–997. doi:10.1080/01402390.2013.770736. ISSN 1743-937X. S2CID 153593727.
- Brookes, Andrew (1982). V Force: The History of Britain's Airborne Deterrent. London: Jane's Publishing Company Ltd. ISBN 978-0-7106-0238-1. OCLC 765520360.
- Brookes, Andrew (2012). Valiant Units of the Cold War. Osprey Combat Aircraft. Oxford: Osprey Publishing. ISBN 978-1-84908753-7. OCLC 812064291.
- Brown, N. (1964). "Britain's Strategic Weapons I. Manned Bombers". The World Today. 20 (7): 293–298. JSTOR 40393629.
- Burden, Rodney A.; Draper, Michael I.; Rough, Douglas A.; Smith, Colin R.; Wilton, David L. (1986). Falklands: The Air War. London: Arms and Armour Press. ISBN 978-0-85368-842-6. OCLC 159813718.
- Cathcart, Brian (1995). Test of Greatness: Britain's Struggle for the Atom Bomb. London: John Murray. ISBN 978-0-7195-5225-0. OCLC 31241690.
- Darling, Kev (2007). Avro Vulcan, Part One. Glamorgan, Wales: Big Bird Aviation. ISBN 978-1-84799-237-6.
- Finn, Christopher; Berg, Paul D. (Winter 2004). "Anglo-American Strategic Air Power Co-operation in the Cold War and Beyond". Air & Space Power Journal. 18 (4). ISSN 1554-2505.
- Gowing, Margaret (1964). Britain and Atomic Energy 1939–1945. London: Macmillan. OCLC 3195209.
- Gowing, Margaret; Arnold, Lorna (1974). Independence and Deterrence: Britain and Atomic Energy, 1945–1952, Volume 1, Policy Making. London: Macmillan. ISBN 978-0-333-15781-7. OCLC 611555258.
- Harrison, Kevin (1982). "From Independence to Dependence: Blue Streak, Skybolt, Nassau and Polaris". The RUSI Journal. 127 (4): 25–31. doi:10.1080/03071848208523423. ISSN 0307-1847.
- Hubbard, Kenneth; Simmons, Michael (2008). Dropping Britain's First H-bomb: The Story of Operation Grapple 1957/58. Barnsley, South Yorkshire: Pen & Sword Aviation. ISBN 978-1-84415-747-1. OCLC 436867016.
- Jackson, Robert (1981). V-Bombers. Shepperton: Ian Allan Ltd. ISBN 978-0-7110-1100-7. OCLC 464218659.
- Jones, Jeffrey (2017). Volume I: From the V Bomber Era to the Arrival of Polaris, 1945–1964. The Official History of the UK Strategic Nuclear Deterrent. Milton Park, Abingdon, Oxfordshire: Routledge. ISBN 978-1-138-67493-6. OCLC 1005663721.
- Lattimer-Needham, C. H. (ngày 22 tháng 11 năm 1945). "Refuelling In Flight". Flight Magazine. tr. 556–560. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018.
- McLelland, Tim (2013). Britain's Cold War Bombers. Stroud, Gloucestershire: Fonthill. ISBN 978-1-78155-052-6. OCLC 840427009.
- Moore, Richard (2010). Nuclear Illusion, Nuclear Reality: Britain, the United States and Nuclear Weapons 1958–64. Nuclear Weapons and International Security since 1945. Basingstoke, Hampshire: Palgrave MacMillan. ISBN 978-0-230-21775-1. OCLC 705646392.
- Navias, Martin S. (1991). British Weapons and Strategic Planning, 1955–1958. Oxford: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-827754-5. OCLC 22506593.
- Proctor, Ian (2014). The Royal Air Force in the Cold War 1950-1970. Barnsley: Pen & Sword Aviation. ISBN 978-1-78383-189-0. OCLC 893163826.
- Rawlings, J D R (1985). The History of the Royal Air Force. Feltham, Middlesex: Temple Press. ISBN 978-0-600-34990-7. OCLC 159847031.
- Roman, Peter J. (1995). "Strategic Bombers over the Missile Horizon, 1957–1963". Journal of Strategic Studies. 18 (1): 198–236. doi:10.1080/01402399508437584. ISSN 0140-2390.
- Suit, William W. (1995). "The Transfer of B-29s to the Royal Air Force Under the Military Defense Assistance Program". Trong Miller, Roger G. (biên tập). Seeing Off the Bear: Anglo-American Air Power Cooperation During the Cold War. Washington, DC: Air Force History and Museums Program, United States Air Force. tr. 101–116. OCLC 936684331.
- White, Rowland (2012). Vulcan 607. London: Bantam Press. ISBN 978-0-593-07126-7. OCLC 941503520.
- Woolven, Robin (2012). "Witness to History: Reflections on Memory and Archives: RAF Bomber Command During the 1962 Cuban Missile Crisis". Britain and the World. 5 (1): 116–126. doi:10.3366/brw.2012.0037. ISSN 2043-8575. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2018.
- Wynn, Humphrey (1997). RAF Strategic Nuclear Deterrent Forces, Their Origins, Roles and Deployment, 1946–1969. A Documentary History. London: The Stationery Office. ISBN 978-0-11-772833-2. OCLC 39225127.
- Young, Ken (2002). "The Royal Navy's Polaris Lobby: 1955–62". Journal of Strategic Studies. 25 (3): 56–86. doi:10.1080/01402390412331302775. ISSN 0140-2390. S2CID 154124838.
- Young, Ken (2004). "The Skybolt Crisis of 1962: Mischief or Muddle?". Journal of Strategic Studies. 27 (4): 614–635. doi:10.1080/1362369042000314538. ISSN 0140-2390. S2CID 154238545.
- Young, Ken (ngày 31 tháng 12 năm 2006). "US 'Atomic Capability' and the British Forward Bases in the Early Cold War". Journal of Contemporary History. 42 (1): 117–136. doi:10.1177/0022009407071626. JSTOR 30036432. S2CID 159815831.
- Young, Ken (Spring 2007b). "A Most Special Relationship: The Origins of Anglo-American Nuclear Strike Planning". Journal of Cold War Studies. 9 (2): 5–31. doi:10.1162/jcws.2007.9.2.5. S2CID 57563082.
- Young, Ken (2016). The American Bomb in Britain: US Air Forces' Strategic Presence 1946–64. Manchester: Manchester University Press. ISBN 978-0-7190-8675-5. OCLC 942707047.
Content Disclaimer
Informasi ini disarikan dari Wikipedia dan disajikan kembali untuk tujuan edukasi. Konten tersedia di bawah lisensi CC BY-SA 3.0. Kami tidak bertanggung jawab atas ketidakakuratan data yang bersumber dari kontribusi publik tersebut.
- The information displayed on this website is sourced in part or in whole from Wikipedia and has been adapted for the purpose of restating it. We strive to provide accurate and relevant information, however:
- There is no guarantee of absolute accuracy. Wikipedia is an open, collaborative project that can be edited by anyone, so information is subject to change.
- It is not intended to constitute professional advice. The content displayed is for informational and educational purposes only. For important decisions (e.g., medical, legal, or financial), please consult a professional.
- Content copyright. Wikipedia is licensed under the Creative Commons Attribution-ShareAlike License (CC BY-SA). This means that content may be reused with appropriate attribution and shared under a similar license.
- Responsible use. Any risk arising from the use of information from this website is entirely the responsibility of the user.









