Svetambara
Bài viết này đang bị thiếu thông tin về Đền thờ và tượng thánh Śvetāmbara. (December 2019) |

Śvetāmbara (/ʃwɛˈtʌmbərə/; cũng được viết là Shwetambara, Shvetambara, Svetambara hoặc Swetambara) là một trong hai nhánh chính của Kỳ Na giáo, nhánh còn lại là Digambara. Từ Śvetāmbara trong Sanskrit có nghĩa là "mặc y phục trắng", ám chỉ thực hành của các khổ hạnh giả thuộc tông phái này là mặc y phục màu trắng, điều phân biệt họ với các tín đồ Digambara hay "khoác trời", những người thực hành đời sống khổ hạnh trong tình trạng khỏa thân. Người Śvetāmbara không tin rằng các nhà khổ hạnh bắt buộc phải thực hành khỏa thân.[1]
Các truyền thống Śvetāmbara và Digambara có những khác biệt lịch sử liên quan đến quy tắc y phục, đền thờ và biểu tượng học, thái độ đối với các ni cô Kỳ Na giáo, các truyền thuyết và những kinh văn được họ xem là quan trọng.[2][3][4] Hiện nay, các cộng đồng Kỳ Na giáo Śvetāmbara chủ yếu tập trung tại Gujarat, Rajasthan và các vùng ven biển của Maharashtra.[5][4] Theo Jeffery D. Long, học giả nghiên cứu Ấn Độ giáo và Kỳ Na giáo, khoảng bốn phần năm tổng số tín đồ Kỳ Na giáo ở Ấn Độ là người Śvetāmbara.[6]
Lịch sử và truyền thừa
Người Śvetāmbara xem mình là những người kế thừa nguyên thủy của Mahavira và cho rằng tông Digambara xuất hiện vào năm 82 CN như kết quả của một cuộc nổi loạn do một tu sĩ tên Sivabhuti, đệ tử của Arya Krishnasuri, khởi xướng. Tường thuật này xuất hiện trong văn bản Śvetāmbara thế kỷ V Viśeśāvaśyaka Bhaśya[7] do Jinabhadra biên soạn. Đây cũng là sự công nhận chính thức sớm nhất về sự phân ly giữa hai tông phái.[8][9][10]
Người Śvetāmbara có nhiều pattavali ghi lại dòng truyền thừa lịch sử của các vị tăng trưởng (acharya) bắt đầu từ Tirthankara thứ 24 là Mahavira. Phổ biến nhất trong số đó là pattavali được đề cập trong Kalpa Sūtra, một kinh điển chính thống của Śvetāmbara. Theo dòng truyền thừa được ghi trong Kalpa Sūtra, Sthulabhadra chính là người kế thừa trực tiếp của Bhadrabāhu. Người Śvetāmbara cũng tin rằng cả hai vị này đều là những tu sĩ mặc y phục trắng. Những niềm tin này hoàn toàn bị tông Digambara bác bỏ.[11]

Để quản lý số lượng tín đồ đông đảo của phái murtipujaka, các gaccha (đơn vị hành chính phụ) đã được thành lập. Mỗi gaccha có pattavali riêng của mình. Một trong tám mươi bốn gaccha là Upkeśa Gaccha. Trong khi tất cả các pattavali khác (bao gồm cả dòng được ghi trong Kalpa Sūtra) đều truy nguyên truyền thừa đến Tirthankara thứ 24 là Mahavira, thì pattavali của Upkeśa Gaccha lại truy nguyên về Tirthankara thứ 23 là Parshvanatha. Kesiswami, một trong những đệ tử chính của Parshvanatha, Acharya Ratnaprabhasuri, người sáng lập cộng đồng Oswal, cũng như Acharya Swayamprabhasuri, người sáng lập cộng đồng Porwal, đều thuộc gaccha này. Gaccha này tồn tại cho đến thập niên 1930 thì tuyệt diệt.[12][13]
Đa số tín đồ Śvetāmbara thuộc phái murtipujaka, nghĩa là họ tích cực dâng lễ puja tại các đền thờ, lễ bái trước các tượng hoặc hình ảnh của các Tirthankara cũng như các nam thần và nữ thần phụ quan trọng trong Kỳ Na giáo.[14] Về mặt lịch sử, đây là truyền thống phụ cổ xưa nhất của Śvetāmbara và tất cả các giáo phái vô tượng khác chỉ xuất hiện từ thế kỷ XIV trở đi.[14]
Phái Śvetāmbara murtipujaka (thờ tượng) là giáo phái lớn nhất trong toàn bộ các tông phái và phân tông của Kỳ Na giáo, có số lượng tín đồ và tu sĩ đông nhất. Để quản lý cộng đồng đông đảo này, các gaccha đã được thành lập. Tổng cộng đã có 84 gaccha xuất hiện trong lịch sử và hiện nay phần lớn đã không còn tồn tại. Chỉ còn lại bốn dòng là Tapa Gaccha, Kharatara Gaccha, Parshvachandra Gaccha và Achal Gaccha. Trong số đó, Tapa Gaccha là dòng lớn nhất với số lượng tu sĩ và tín đồ nhiều nhất.[12][15]
Phái murtipujaka đã sản sinh nhiều vị tu sĩ nổi tiếng, bao gồm nhưng không giới hạn ở Vimalsuri, Hemachandra, Hiravijaya, Devardhigani Kshamashraman, Yashovijaya, Anandghan, Siddhasena và Manatunga.
Kinh điển và văn học
Văn học Śvetāmbara có thể được phân thành hai loại chính: kinh điển chính thống (canonical) và phi chính thống (non-canonical). Các kinh điển chính thống trình bày vũ trụ quan Kỳ Na giáo và triết học Kỳ Na giáo, cũng như những khía cạnh nền tảng để hiểu Kỳ Na giáo. Chúng cũng quy định cách ứng xử của tăng sĩ, ni sư và cư sĩ.[16] Các tác phẩm phi chính thống bao gồm, nhưng không giới hạn ở, các bản chú giải kinh điển, tiểu sử của các Śalākāpuruṣa (như trong tác phẩm Trisasti-shalakapurusa-caritra của Hemachandra),[17] thần thoại Kỳ Na giáo, các luận thư và phần mở rộng của kinh điển chính thống, danh mục từ ngữ hiếm gặp, các kho tri thức và từ điển cho Ardhamagadhi Prakrit, Maharashtri Prakrit và Sanskrit, các bài thánh ca sùng kính (stavan, stuti, sajjhay hoặc mantra), cùng nhiều loại trước tác khác.[18]
Āgama hay Văn học kinh điển chính thống
Kinh điển Śvetāmbara gồm 45 văn bản, phần lớn được viết bằng Ardhamagadhi Prakrit. Chúng được xem là phần còn lại của giáo lý do Mahavira truyền dạy. Trong lịch sử, tri thức về các kinh điển này được truyền khẩu theo hệ thống thầy trò (guru-shishya parampara). Tuy nhiên, ký ức của các tu sĩ bị suy giảm trong nạn đói kéo dài 12 năm được mô tả trong Kalpa Sūtra. Kết quả là phần lớn kiến thức về các kinh điển chính thống đã bị thất lạc. Những gì còn lại được hệ thống hóa tại Đại hội đồng Vallabhi dưới sự lãnh đạo của Devardhigani Kshamashramana, tổ chức tại Vallabhi năm 454 CN, hình thành nên 45 kinh điển hiện vẫn chi phối thực hành tôn giáo của tông Śvetāmbara cho đến ngày nay.[19][20]
Từ góc độ ngôn ngữ học, các kinh điển chính thống của Śvetāmbara là những tác phẩm cổ xưa nhất trong toàn bộ văn học Kỳ Na giáo. Các kinh Ācārāṅga Sūtra, Uttaradhyayana Sutra và Sthananga Sutra của kinh điển Śvetāmbara được cho là đã được biên soạn từ thế kỷ V–IV TCN.[21] Sau đây là danh sách 45 kinh điển chính thống được người Śvetāmbara tuân theo:
- Mười hai Anga (chi phần)
- Āyāraṃga (Jain Prakrit; Sanskrit: Ācāranga, nghĩa: “Về hạnh kiểm tu sĩ”)
- Sūyagaḍa (Sūtrakṛtāṅga, “Về các học thuyết và quan điểm dị giáo”)
- Ṭhāṇaṃga (Sthānāṅga, “Về các điểm giáo lý khác nhau”)
- Samavāyaṃga (Samavāyāṅga, “Về các nhóm số được sắp xếp”)
- Viyāha-pannatti / Bhagavaī (Vyākhyā-prajñapti hoặc Bhagavatī, “Trình bày các giải thích” hoặc “Bậc Thánh”)
- Nāyā-dhamma-kahāo (Jñāta-dharmakathānga, “Dụ ngôn và truyện tôn giáo”)
- Uvāsaga-dasāo (Upāsaka-daśāḥ, “Mười chương về người cư sĩ Kỳ Na giáo”)
- Aṇuttarovavāiya-dasāo (Antakṛd-daśāḥ, “Mười chương về những người chấm dứt tái sinh ngay trong đời này”)
- Anuttaraupapātikadaśāh (Anuttaropapātika-daśāḥ, “Mười chương về những người tái sinh lên các cõi trời cao nhất”)
- Paṇha-vāgaraṇa (Praśna-vyākaraṇa, “Câu hỏi và giải thích”)
- Vivāga-suya (Vipākaśruta, “Kết quả tốt hoặc xấu của các hành động đã thực hiện”)
- Drstivada (Driśtivāda, “Chứa 14 purva và hiện được xem là đã thất truyền”)
- Mười hai Upāṅga (chi phụ)
- Uvavāiya-sutta (Sanskrit: Aupapātika-sūtra, “Các nơi tái sinh”)
- Rāya-paseṇaijja hoặc Rāyapaseṇiya (Rāja-praśnīya, “Những câu hỏi của nhà vua”)
- Jīvājīvābhigama (Jīvājīvābhigama, “Phân loại các thực thể hữu tình và vô tình”)
- Pannavaṇā (Prajñāpanā, “Trình bày các chủ đề triết học và đạo đức”)
- Sūriya-pannatti (Sūrya-prajñapti, “Luận về mặt trời”)
- Jambūdvīpa-pannatti (Jambūdvīpa-prajñapti, “Luận về lục địa Jambū và vũ trụ Kỳ Na giáo”)
- Canda-pannatti (Candra-prajñapti, “Luận về mặt trăng và vũ trụ Kỳ Na giáo”)
- Nirayāvaliyāo hoặc Kappiya (Narakāvalikā, “Chuỗi truyện về những người tái sinh vào địa ngục”)
- Kappāvaḍaṃsiāo (Kalpāvataṃsikāḥ, “Chuỗi truyện về những người tái sinh vào các cõi trời kalpa”)
- Pupphiāo (Puṣpikāḥ, “Hoa”, liên quan đến một trong các câu chuyện)
- Puppha-cūliāo (Puṣpa-cūlikāḥ, “Ni sư Puṣpacūlā”)
- Vaṇhi-dasāo (Vṛṣṇi-daśāh, “Các câu chuyện về những nhân vật thuộc triều đại huyền thoại Andhaka-Vṛṣṇi”)
- Sáu Chedasūtra (các văn bản liên quan đến hạnh kiểm và ứng xử của tăng ni)
- Āyāra-dasāo (Sanskrit: Ācāradaśāh, “Mười [chương] về hạnh kiểm tu sĩ”; chương 8 là Kalpa-sūtra nổi tiếng)
- Bihā Kappa (Bṛhat Kalpa, “Đại giới luật”)
- Vavahāra (Vyavahāra, “Thủ tục”)
- Nisīha (Niśītha, “Các điều cấm”)
- Jīya-kappa (Jīta-kalpa, “Các quy tắc tập tục”), chỉ được Mūrti-pūjaka công nhận là kinh điển chính thống
- Mahā-nisīha (Mahā-niśītha, “Đại Niśītha”), chỉ được Mūrti-pūjaka công nhận là kinh điển chính thống
- Bốn Mūlasūtra (“Kinh căn bản”, là các tác phẩm nền tảng dành cho người mới xuất gia)
- Dasaveyāliya-sutta (Sanskrit: Daśavaikālika-sūtra), được tất cả các tu sĩ khất thực Kỳ Na giáo mới xuất gia học thuộc lòng
- Uttarajjhayaṇa-sutta (Uttarādhyayana-sūtra)
- Āvassaya-sutta (Āvaśyaka-sūtra)
- Piṇḍa-nijjutti và Ogha-nijjutti (Piṇḍa-niryukti và Ogha-niryukti), chỉ được Mūrti-pūjaka công nhận là kinh điển chính thống
- Hai Cūlikasūtra (“Phụ lục”)
- Nandī-sūtra – bàn về năm loại tri thức
- Anuyogadvāra-sūtra – luận thư kỹ thuật về các phương pháp phân tích, bàn về Anekantavada
- Mười Paiṇṇayasūtra (“Văn bản tạp loại”)
- Cau-saraṇa (Sanskrit: Catuḥśaraṇa, “Bốn nơi nương tựa”)
- Āura-paccakkhāṇa (Ātura-pratyākhyāna, “Sự từ bỏ của người bệnh”)
- Bhatta-parinnā (Bhakta-parijñā, “Từ bỏ thực phẩm”)
- Saṃthāraga (Saṃstāraka, “Giường rơm”)
- Tandula-veyāliya (Taṇḍula-vaicārika, “Quán tưởng về hạt gạo”)
- Canda-vejjhaya (Candravedhyaka, “Bắn trúng mục tiêu”)
- Devinda-tthaya (Devendra-stava, “Tán thán các Thiên vương”)
- Gaṇi-vijjā (Gaṇi-vidyā, “Tri thức của vị Gaṇi”)
- Mahā-paccakkhāṇa (Mahā-pratyākhyāna, “Đại từ bỏ”)
- Vīra-tthava (Vīra-stava, “Tán thán Vīra”)
Danh sách trên có tổng cộng 46 văn bản, nhưng anga cuối cùng là Driśtivāda được cả hai tông phái xem là đã thất truyền. Chính bộ kinh này từng chứa đựng 14 purva (14 kinh văn lưu giữ lượng tri thức đồ sộ của Kỳ Na giáo).
Văn học phi chính thống
Tất cả các văn bản hoặc tác phẩm văn học do các tu sĩ Śvetāmbara trước tác, ngoại trừ những tác phẩm được nêu ở trên, đều được xem là văn học phi chính thống. Sau đây là một số ví dụ tiêu biểu. Tuy nhiên, danh sách này không đầy đủ, vì tông Śvetāmbara từ trước đến nay luôn có số lượng tu sĩ nhiều hơn tông Digambara:
- Chú giải các kinh điển chính thống:
- Yogaśāstra của Hemachandra
- Yogadṛṣṭisamuccaya của Haribhadra
- Gyānsār của Yashovijaya[22]
- Viśeśāvaśyaka Bhaśya của Jinabhadra[7]
- Tiểu sử các Śalākāpuruṣa và các vị tu sĩ khác
- Trīṣaṣṭiśalākāpuruṣacharitra của Hemachandra (tiểu sử cuộc đời của 63 bậc vĩ nhân)[17]
- Pariśiṣṭaparvan của Hemachandra
- Paumachariyam của Vimalsuri (phiên bản Ramayana theo Kỳ Na giáo cổ nhất còn được biết đến)[23][24]
- Các thánh ca sùng kính
- Bhaktāmara Stotra của Manatunga
- Kalyān Mandir Stotra của Siddhasena[25]
- Vardhamān Śakrastav Stotra của Siddhasena[26]
- Sakalārhat Stotra của Hemachandra[27]
- Các luận thư về ngôn ngữ và ngữ pháp
- Bộ từ điển bảy phần Abhidhānarājaindrakōśa của Rajendrasuri[28]
- Siddha-Hema-Śabdanuśāśana của Hemachandra[29]
- Tattvaprakāśikā prakāś của Hemachandra (ngữ pháp của tiếng Gujarat cổ)
- Abhidhāna-cintāmaṇi-kośa của Hemachandra
- Anekarth Kośa của Hemachandra
- Deśi-Śabda-Sangraho của Hemachandra
Thực hành tôn giáo
Chaturvidha Sangha
Có nhiều khác biệt đáng kể giữa các thực hành của Śvetāmbara và Digambara, mặc dù cũng tồn tại một số điểm giao thoa căn bản. Kinh điển Śvetāmbara chia Jain Sangha thành bốn bộ phận và cộng đồng này thường được gọi là chaturvidha sangha (một sangha gồm bốn thành phần). Bốn thành phần đó là: tăng sĩ, ni sư, cư sĩ nam (còn gọi là śrāvaka) và cư sĩ nữ (còn gọi là śrāvikā). Các thực hành tôn giáo của tông Śvetāmbara khác nhau tùy theo từng bộ phận (tu sĩ và cư sĩ) của sangha.[30]
Đời sống tu trì
Chuẩn bị thọ giới
Ngay trước khi thọ giới, người chuẩn bị xuất gia sẽ thực hiện lần puja cuối cùng của mình đối với các tượng Tirthankara. Các tăng sĩ và ni sư không được phép thực hiện puja trước tượng thánh, bởi vì họ không được phép tắm suốt đời, và kinh điển Śvetāmbara chỉ cho phép người có thân thể thanh tịnh sau khi tắm mới được thực hiện puja trước các tượng thánh. Trước khi thọ giới, người xuất gia cũng tiến hành nghi thức bố thí toàn bộ tài sản thế gian của mình.[31]
Đền thờ và biểu tượng học

Đền thờ
Việc thờ đền và thờ tượng là đặc trưng của các nhánh Mūrtipūjaka trong Kỳ Na giáo Śvetāmbara. Các ngôi đền của họ, thường được gọi là derāsar hoặc jinālaya ở miền tây Ấn Độ, chứa các tượng Tirthankara (Jina) đã được khai quang, trước đó các tín đồ cư sĩ thực hiện các nghi thức pūjā, darśana và caityavandana.[32]
Tượng thờ không đại diện cho một vị thần sáng tạo có khả năng can thiệp vào các công việc của con người. Jina được hiểu là đã đạt giải thoát và do đó hoàn toàn vượt khỏi mọi hoạt động thế tục; theo Cort, việc thờ phụng một phần mang chức năng hướng người hành lễ tới những phẩm chất mà vị Jina giải thoát ấy biểu hiện.
Các ngôi đền Śvetāmbara rất đa dạng tùy theo thời kỳ và khu vực, và nhìn chung tham gia vào các truyền thống kiến trúc của vùng nơi chúng được xây dựng.[33] Ở miền tây Ấn Độ, nơi Kỳ Na giáo Śvetāmbara từng đặc biệt phát triển, các nhà bảo trợ Kỳ Na giáo đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và duy trì kiến trúc Māru-Gurjara. Các ví dụ tiêu biểu gồm quần thể đền Dilwara tại Mount Abu, quần thể đền Shatrunjaya gần Palitana, Taranga Jain temple và Ranakpur Jain temple. Những trung tâm hành hương lớn như Shatrunjaya không phát triển như một công trình đơn lẻ mà là tập hợp quy mô lớn gồm nhiều đền thờ và điện phụ được xây dựng và trùng tu bởi nhiều thế hệ tín chủ Kỳ Na giáo.[34]

Một ngôi đền Mūrtipūjaka thường tập trung vào một tượng Jina chính đã được khai quang đặt trong chính điện, mặc dù các đền lớn hơn có thể chứa nhiều điện thờ phụ và tượng phụ. Một số đền sử dụng bố cục caturmukha ("bốn mặt"), trong đó các tượng Jina hướng về bốn phương chính. Bố cục này trở thành một yếu tố đặc biệt quan trọng trong kiến trúc thánh địa Kỳ Na giáo.[35]
Các quần thể đền còn có thể bao gồm các mô hình vũ trụ học và thánh địa hành hương, các vị thần phụ trợ và nhiều nhân vật khác thuộc thế giới linh thiêng của Kỳ Na giáo.
Tượng các Tirthankara
Các tượng trung tâm trong việc thờ cúng của phái Śvetāmbara Mūrtipūjaka là tượng của hai mươi bốn vị Tirthankara. Các Jina thường được thể hiện trong một trong hai tư thế thiền định: ngồi kiết già (padmāsana) hoặc đứng thẳng trong tư thế từ bỏ thân xác (kāyotsarga). Diện mạo tương đối giống nhau của họ nhằm biểu thị trạng thái viên mãn và siêu thoát của một Jina hơn là chân dung cá nhân của một con người cụ thể.[36]
Các Tirthankara riêng lẻ được phân biệt bằng những đặc điểm biểu tượng quy ước, đặc biệt là lāñchana (dấu hiệu nhận biết). Chẳng hạn, Ṛṣabhanātha gắn với hình tượng bò mộng, Neminatha với vỏ ốc, Pārśvanātha với rắn, và Mahavira với sư tử. Pārśvanātha còn dễ dàng được nhận ra nhờ chiếc tán rắn nhiều đầu phía trên đầu, trong khi Ṛṣabhanātha thường được phân biệt bằng những lọn tóc buông xuống vai. Các tượng cũng có thể đi kèm với những hình tượng phụ trợ yakṣa và yakṣiṇī, cùng nhiều nhân vật khác trong hệ biểu tượng rộng lớn của Tirthankara.
Một điểm khác biệt dễ nhận thấy giữa tượng Jina của Śvetāmbara và Digambara liên quan đến cách thể hiện và xử lý nghi lễ đối với thân thể. Trong khi lý tưởng Digambara nhấn mạnh sự khỏa thân hoàn toàn của Tirthankara, các tượng Śvetāmbara có thể cho thấy dấu hiệu y phục, và đặc biệt trong các kỳ lễ hội và nghi thức thờ cúng, có thể được trang trí bằng châu báu, vương miện, hoa và nhiều đồ trang sức khác.[37] Việc trang trí này không có nghĩa là người ta tin rằng Jina giải thoát vẫn còn nhu cầu thế tục; nó chỉ là một phần trong nghi thức và lòng sùng kính dành cho hình tượng.

Truyền thống Śvetāmbara cũng bảo tồn một loại hình biểu tượng và tự sự đặc biệt gọi là jīvant svāmī (“vị chúa sống”). Các câu chuyện Śvetāmbara mô tả một bức tượng Mahāvīra được tạo ra ngay trong thời gian ông còn tại thế, trước khi ông từ bỏ đời sống thế tục, và vì vậy tượng thể hiện ông như một vị vương tử hơn là chỉ như vị Tirthankara xuất gia. Do đó, truyền thống này mô tả jīvant svāmī với các thuộc tính hoàng gia như vương miện và trang sức. Nhà sử học nghệ thuật John E. Cort cho rằng các truyền thuyết xoay quanh hình tượng này là một phần trong diễn ngôn rộng lớn hơn của Śvetāmbara nhằm khẳng định tính cổ xưa và tính chính đáng của việc thờ tượng.[38]
Nghi thức khai quang và thờ phụng
Đối với người Śvetāmbara Mūrtipūjaka, một tượng thờ được dự định sử dụng trong đền phải trải qua nghi thức khai quang (pratiṣṭhā) trước khi trở thành trung tâm của các hoạt động nghi lễ thường xuyên. Việc thờ phụng trong đền bao gồm darśana (chiêm bái Jina), các nghi lễ tán dương và nhiều hình thức pūjā. Nghiên cứu của Cort về nghi lễ Mūrtipūjaka Śvetāmbara tại Patan mô tả cả nghi thức caityavandana lẫn hình thức thờ phụng tám phần, trong đó nhiều phẩm vật được dâng lên tượng Jina. Vì vậy, việc tắm rửa và xức hương cho tượng, trang trí tượng và dâng cúng các lễ vật đều là thành phần của một hệ thống nghi lễ rộng lớn hơn, tập trung vào việc ghi nhớ và noi theo những phẩm chất tâm linh của các Jina.
Các tượng thờ cũng giữ vị trí quan trọng trong hoạt động hành hương. Những trung tâm hành hương Śvetāmbara như Shatrunjaya, Girnar và Shankheshwar đều có các ngôi đền tập trung quanh những tượng Jina đặc biệt, với lịch sử của chúng được lưu giữ trong các truyện ký hành hương và truyền thống tông phái. Cort cho thấy rằng các câu chuyện về nguồn gốc, sự phát hiện, sự tồn tại, việc trùng tu hoặc sự bảo tồn kỳ diệu của những tượng thánh cụ thể đã trở thành một thể loại văn học quan trọng, qua đó các tác giả Śvetāmbara trình bày lịch sử thiêng liêng của các đền thờ và thánh địa hành hương.[39]
Các truyền thống vô tượng
Việc thờ đền và thờ tượng không nên được xem là phổ quát trong cộng đồng Śvetāmbara. Bắt đầu từ thế kỷ XV tại Gujarat, Lonka Shah đã chỉ trích việc thờ tượng cũng như một số khía cạnh của cơ cấu tôn giáo lấy đền thờ làm trung tâm. Những phong trào phát sinh từ sự chỉ trích này cuối cùng góp phần hình thành truyền thống Sthānakavāsī, từ đó phái Śvetāmbara Terapanth xuất hiện sau này.[40]
Người Sthānakavāsī và Terāpanthī bác bỏ việc tôn kính các tượng thánh trong tôn giáo, và do đó không tổ chức đời sống sùng kính của họ quanh các tượng Jina đã được khai quang trong đền thờ. Vì thế, sự khác biệt giữa truyền thống Mūrtipūjaka thờ tượng và các truyền thống vô tượng đã trở thành một trong những phân chia nội bộ quan trọng nhất của Kỳ Na giáo Śvetāmbara kể từ thời kỳ cận đại.[41]
Thọ giới
Khi thọ giới, một tăng sĩ hoặc ni sư từ bỏ mọi tài sản và mối quan hệ thế tục, thọ nhận Năm Đại Nguyện và tự nhổ tóc của mình. Một tăng sĩ hoặc ni sư mới thọ giới sẽ được vị thầy truyền giới (luôn là một acharya) trao cho rajoharan trong một nghi lễ trang trọng.
Khác với tông Digambara, nơi các tăng ni không bị cấm tiếp xúc với nhau hoặc với cư sĩ khác giới, các tăng sĩ và ni sư thuộc tông Śvetāmbara không được chạm vào người khác giới (dù là tu sĩ hay cư sĩ) và thực hành độc thân tuyệt đối suốt đời.[31]
Tài sản của tăng sĩ (Āvaśyaka)
Các tăng sĩ và ni sư của tông Śvetāmbara mặc y phục trắng không có đường may và mang theo một rajoharan (chổi len dùng để quét đường đi nhằm tránh làm hại côn trùng và các sinh vật nhỏ), một bình khất thực, một cây gậy dài và các kinh sách. Mọi tăng sĩ và ni sư chỉ được sở hữu những vật dụng này. Ngoài ra, họ chỉ được sử dụng những gì được người khác trao cho và những gì thuộc phạm vi vật dụng được phép sở hữu (các vật được liệt kê ở trên). Họ không được phép lấy bất cứ thứ gì mà chủ sở hữu chưa trao cho mình.[42]

Khất thực nhận thực phẩm
Không giống các vị khổ hạnh thuộc tông Digambara, các vị khổ hạnh của tông Śvetāmbara khất thực từ nhiều hộ gia đình khác nhau, vì Ācārāṅga Sūtra mô tả rằng việc nhận toàn bộ bữa ăn từ một gia đình duy nhất không được xem là thực phẩm hoàn toàn không lỗi, vốn là loại thực phẩm mà một tu sĩ Kỳ Na giáo phải sử dụng. Lý do là việc nhận quá nhiều thực phẩm từ một gia đình có thể khiến gia chủ sinh phiền não hoặc khổ tâm. Việc trở thành nguyên nhân cho sự phiền não của người bố thí là điều không thể chấp nhận được theo giới hạnh của một vị khất sĩ.
Kinh điển mô tả 42 lỗi liên quan đến thực phẩm mà một tăng sĩ hoặc ni sư phải xem xét trước khi nhận làm vật khất thực. Họ chỉ được phép dùng thực phẩm không mắc 42 lỗi này (như được mô tả trong Ācārāṅga Sūtra) và nước đun sôi trong khoảng thời gian từ 48 phút sau khi mặt trời mọc đến 48 phút trước khi mặt trời lặn. Tuy nhiên, tăng sĩ và ni sư thuộc tông Śvetāmbara tích cực thực hành, khuyến khích và truyền cảm hứng cho cư sĩ thực hành chay tịnh và nhịn ăn nhằm đạt được sự chế ngự các giác quan.[45][46][47]
Du hành
Các vị khất sĩ liên tục du hành bằng đường bộ trong tám tháng mỗi năm (ngoại trừ bốn tháng của mùa chaturmasya). Lý do họ phải di chuyển liên tục là để điều phục tâm sở hữu và truyền bá giáo pháp Kỳ Na giáo. Ācārāṅga Sūtra quy định rằng một vị khất sĩ không được ở cùng một nơi quá một tháng. Nguyên nhân là để hạn chế sự bám chấp. Nếu lưu lại một nơi quá lâu, vị khất sĩ có thể bắt đầu gắn bó với nơi đó; mọi sự chấp trước như vậy cần phải tránh hoặc từ bỏ nếu đã phát sinh.
Tuy nhiên, trong bốn tháng của mùa chaturmasya, trời thường mưa nhiều và số lượng côn trùng trên mặt đất tăng mạnh. Các vị khất sĩ không được giẫm đạp lên côn trùng nhằm thực hành ahimsa (bất hại), vì vậy họ phải lưu trú tại một nơi trong bốn tháng này. Việc giẫm lên cỏ hoặc đi trên mặt nước hay nền đất ướt cũng không được phép vì những môi trường đó được xem là chứa đựng sự sống.
Phần lớn các vị khất sĩ đều thuyết giảng giáo lý và truyền bá Kỳ Na giáo tại những nơi họ đi qua. Ngày nay, nhiều đền Kỳ Na giáo có những không gian đa năng mà các vị khất sĩ có thể sử dụng sau khi được ban quản lý đền cho phép. Điều này đặc biệt quan trọng vì nếu một nơi được xây dựng riêng nhằm mục đích lưu trú cho các khất sĩ, dù chỉ tạm thời, thì nơi đó trở nên không thích hợp để họ sử dụng. Nguyên nhân là vì lúc đó nơi ấy không còn được xem là “không có lỗi” nữa, do các khất sĩ trở thành nguyên nhân của sự chiếm hữu và gián tiếp liên quan đến bạo hại. Vấn đề này được thảo luận khá chi tiết trong Ācārāṅga Sūtra.[48]
Các cấp bậc tu sĩ
Các tu sĩ của tông Śvetāmbara được phân loại theo các cấp bậc được mô tả trong Namokar Mantra. Mỗi tu sĩ mới thọ giới đều là một sadhu (cấp bậc thứ năm như được nêu ở dòng thứ năm của Namokar Mantra). Sau khi đạt được trình độ thích đáng về tri thức tâm linh, kinh điển và kinh nghiệm đời sống xuất gia, một sadhu có thể được thăng cấp thành upadhyaya (cấp bậc thứ tư như được mô tả ở dòng thứ tư của Namokar Mantra). Cuối cùng, sau khi hoàn tất quá trình giáo dục tâm linh ở mức độ cao, một tu sĩ sẽ được tấn phong thành acharya.
Các acharya là những vị lãnh đạo tâm linh của dòng tu tương ứng. Thông thường, mỗi một trong bốn gaccha đều có một vị đạo sư tối cao được gọi là gacchadhipati của gaccha đó. Một gacchadhipati chính là một acharya.
Các dòng Kharatara Gaccha, Achal Gaccha và Parshvachandra Gaccha mỗi dòng chỉ có một gacchadhipati. Tuy nhiên, Tapa Gaccha có tới 21 gacchadhipati do dòng này được chia thành nhiều samudaay (các phân nhánh nhỏ hơn trong một gaccha). Một số samudaay quan trọng của Tapa Gaccha gồm:
- Buddhisagarsuri Samudaay
- Sagaranand (hay Anandsagar) Samudaay
- Kalapurnasuri Samudaay
- Bhuvanbhanusuri Samudaay
- v.v.
Một cấp bậc tu sĩ khác là ganivarya, những người đóng vai trò lãnh đạo tâm linh của một nhóm tu sĩ nhỏ thuộc một samudaay. Ngoài ra còn tồn tại các cấp bậc khác như panyaas và upapanyaas.
Các nhiệm vụ khác
Các tu sĩ Śvetāmbara còn đảm nhiệm nhiều chức năng và nhiệm vụ khác. Một số nhiệm vụ tiêu biểu gồm:
- Biên soạn các tác phẩm phi chính thống (bao gồm các bản chú giải kinh điển chính thống), chẳng hạn như Yogaśāstra của Hemachandra, Yogadṛṣṭisamuccaya của Haribhadra, Gyānsār của Yashovijaya, và Viśeśāvaśyaka Bhaśya của Jinabhadra.[7][22]
- Sáng tác các bài thánh ca sùng kính (stavan, stuti, sajjhay, v.v.), chẳng hạn như Chouvisi của Anandghan, Bhaktāmara Stotra của Manatunga, Kalyan Mandir Stotra và Vardhamān Śakrastav Stotra của Siddhasena, Sakalarhat Stotra của Hemachandra, v.v.[49][25][26][27]
- Tích cực truyền bá các nguyên lý của Kỳ Na giáo trong cộng đồng cư sĩ thông qua các bài thuyết giảng tôn giáo.
- Truyền thọ các giới nguyện cho cư sĩ, chẳng hạn như mười hai giới nguyện của cư sĩ.[50]
- Tiếp nhận sự sám hối và giao các hình thức chuộc lỗi thích hợp cho cư sĩ (alochana hoặc prāyaścitta).[51]
- Các acharya thực hiện nghi lễ khai quang đất đền và tượng thờ trong nghi thức gọi là anjana-śalākā. [52]
- Đào tạo các cư sĩ có dự định xuất gia trong tương lai gần.[53]
- Thường xuyên thực hành Pratikramana.
Cư sĩ
Kinh điển Śvetāmbara quy định một số hướng dẫn và bổn phận dành cho các tín đồ cư sĩ (śrāvaka và śrāvikā) của Kỳ Na giáo. Một số nội dung được tóm tắt như sau:
12 Vrat (Giới nguyện) của người tại gia
Kinh điển mô tả 12 giới nguyện mà một người tại gia phải thọ trì nhằm giảm thiểu sự tích lũy karma. Mười hai giới nguyện này cũng được cư sĩ thuộc tông Digambara và các nhánh vô tượng của Śvetāmbara thực hành. Đây là một trong số rất ít điểm mà các tông phái đều đồng thuận. Chúng tóm lược hầu hết các bổn phận mà một người tại gia phải thực hiện với tư cách thành viên của Jain sangha. Các giới nguyện này được chia thành ba nhóm.
Sau đây là danh sách 12 giới nguyện của người tại gia:
- 5 Aṇuvrata[54]
- Sthūla Prāṇātipāta Viramaṇ Vrat: Phiên bản giảm nhẹ của Ahimsa Mahāvrat (Đại nguyện Bất hại) mà các tu sĩ thực hành. Một mức độ bạo lực tối thiểu và không thể tránh khỏi được chấp nhận đối với cư sĩ; họ không bị yêu cầu thực hành ahimsa nghiêm ngặt như các vị khất sĩ.
- Sthūla Mṛṣāvāda Viramaṇ Vrat: Phiên bản giảm nhẹ của Satya Mahāvrat (Đại nguyện Chân thật). Cư sĩ được khuyến khích tránh nói dối.
- Sthūla Adattādāna Viramaṇ Vrat: Hình thức nhẹ hơn của Achaurya Mahāvrat (Đại nguyện Không trộm cắp) mà các tăng ni thực hành. Cư sĩ không nên lấy bất cứ thứ gì không thuộc về mình hoặc chưa được người khác cho phép.
- Sthūla Maithuna Viramaṇ Vrat: Hình thức giảm nhẹ của Brahmacharya Mahāvrat (Đại nguyện Phạm hạnh). Cư sĩ được khuyên tránh ngoại tình hoặc quan hệ với bất kỳ ai ngoài người phối ngẫu của mình.
- Sthūla Parigrah Viramaṇ Vrat: Hình thức nhẹ hơn của Aparigrah Mahāvrat (Đại nguyện Không sở hữu) của các vị xuất gia. Người tại gia không nên tích lũy tài sản vượt quá nhu cầu thực tế. Sự đắm chìm quá mức trong những thú vui vật chất và thế tục được xem là chướng ngại đối với việc đạt tới moksha.
- 3 Guṇavrata[54]
- Sthūla Dik Parimāṇa Vrat: Giới nguyện này nhằm hạn chế việc di chuyển theo mọi hướng bằng cách đặt ra giới hạn cụ thể. Điều này giúp giảm số lần di chuyển và do đó làm giảm lượng karma tích lũy vào linh hồn.
- Sthūla Bhogopabhoga Viramaṇ Vrat: Giới nguyện này nhằm giới hạn việc sử dụng các vật dụng vật chất trong một mức độ nhất định. Việc thực hành giới nguyện này giúp cư sĩ giảm bớt sự chấp trước vào các đối tượng vật chất.
- Sthūla Anarthadaṇḍa Viramaṇ Vrat: Giới nguyện này yêu cầu từ bỏ hoàn toàn các hoạt động vô ích và vô nghĩa. Mọi hành động được thực hiện không có lý do chính đáng đều bị xem là tạo nghiệp xấu. Vì vậy, giới nguyện này hướng dẫn cư sĩ giảm hoặc chấm dứt các hành động và hoạt động vô ích.
- 4 Śikṣāvrata[54]
- Sāmāyika Vrat: Giới nguyện này có thể được truyền bởi một vị khất sĩ, bởi một cư sĩ đã thọ trì trước đó, hoặc do cá nhân tự thọ nhận. Thời gian thực hành kéo dài 48 phút. Trong khoảng thời gian này, cư sĩ được khuyến khích học tập kinh điển và nâng cao kiến thức tôn giáo. Trong 48 phút ấy, người cư sĩ trở thành tương đương một vị xuất gia và phải tuân thủ Năm Đại Nguyện như các vị ấy. Người thực hành giới nguyện này tạm thời tách mình khỏi các hoạt động thế tục và nuôi dưỡng tâm bình đẳng trong 48 phút. Theo nghĩa rộng, tâm bình đẳng (không bị chi phối bởi điều thuận hay nghịch) là mục tiêu tối hậu của Kỳ Na giáo vì nó dẫn đến việc không tạo thêm karma mới cho linh hồn.[55]
- Deśāvakāśika Vrat: Giới nguyện này bao gồm việc hoàn thành 2 lần pratikramana và 8 lần sāmāyika.
- Pauṣadha Vrat: Giới nguyện này được thọ trì trong một khoảng thời gian xác định và chỉ được truyền bởi một vị khất sĩ. Trong thời gian đó, người cư sĩ được xem tương đương với một vị xuất gia và phải thực hành Năm Đại Nguyện như các vị ấy. Người thực hành cũng phải khất thực nhận thức ăn và tuân thủ mọi quy tắc, nghi lễ và nghi thức mà một vị khất sĩ thực hiện.
- Atithi Saṃvibhāga Vrat: Giới nguyện này khuyến khích tinh thần bố thí nơi cư sĩ bằng cách khuyến khích họ cúng dường tài sản cho tăng sĩ, ni sư và những người cần giúp đỡ khác. Người ta tin rằng việc nghiêm túc thực hành giới nguyện này sẽ giúp giảm bớt sự chấp trước vào những thú vui vật chất và thế tục.
6 Āvaśyaka (Sáu thực hành thiết yếu) của cư sĩ
Sáu thực hành thiết yếu được xem là những điều mà một cư sĩ cần thực hiện thường xuyên trong cả hai tông phái.[56] Tuy nhiên, nội dung thực hành cụ thể ở mỗi tông phái lại khác nhau. Các vị khất sĩ cũng thực hành những nghi lễ này một cách thường xuyên, và người ta tin rằng chúng giúp duy trì kỷ luật, đồng thời tạo ít karma nhất và tiêu trừ được nhiều karma nhất.[57] Sau đây là sáu thực hành thiết yếu của các śrāvaka và śrāvikā thuộc tông Śvetāmbara:[58]
- Sāmāyika: Khái niệm này được xem là quan trọng đến mức nó xuất hiện cả trong Mười Hai Giới Nguyện lẫn Sáu Thực Hành Thiết Yếu. Đây cũng là chủ đề được thảo luận rộng rãi trong kinh điển Uttaradhyayana Sutra. Một cư sĩ thực hành trạng thái bình đẳng tâm trong 48 phút và chính qua đó mà sự thanh lọc linh hồn diễn ra.[55]
- Chaturvimsati-stava: Đây là việc ca ngợi, tán thán phẩm chất và cầu nguyện đến các tirthankara như những bậc tối thượng nhằm thanh lọc linh hồn. Thông qua đó, người cư sĩ đạt được ratnatraya và cuối cùng là samyaktva (tri thức, đức tin và hành vi chân chính). Kinh điển Śvetāmbara quy định dùng Logassa Sutra và Namutthunam Sutra để ca ngợi phẩm chất của 24 vị tirthankara. Các kinh này được viết bằng Ardhamagadhi Prakrit.[57]
- Vandanā: Đây là thực hành đảnh lễ vị thầy hướng dẫn xuất gia của mình (tăng hoặc ni). Điều này cũng hàm ý việc hoàn toàn quy y nơi vị đạo sư và chấp nhận lời dạy của họ. Phụng sự và tôn kính vị thầy tâm linh của mình là một trong những bổn phận quan trọng nhất của người cư sĩ.[55][56]
- Pratikramana: Việc tiêu trừ karma bất thiện là mục tiêu chính của Kỳ Na giáo và thực hành này tạo điều kiện trực tiếp cho việc đó. Nó bao gồm sám hối, quán chiếu lỗi lầm của mình một cách tỉnh thức và cầu xin tha thứ đối với những hành vi sai trái đã thực hiện. Nghi thức này bao gồm một chuỗi dài các bài tụng, lời cầu nguyện và nghi lễ. Mục đích chính là xin tha thứ cho các hành động bất thiện. Nó bao gồm thực hành thứ nhất, thứ hai và thứ năm của Āvaśyaka trong cấu trúc nghi lễ của mình.[55][57]
- Kāyotsarga: Thực hành này liên quan đến việc chuyên chú vào trạng thái vô chấp. Nó có thể được thực hiện trong tư thế đứng hoặc ngồi; trong thời gian ấy, người cư sĩ không được nghĩ đến bất kỳ đối tượng chấp trước nào, kể cả thân thể của chính mình. Theo kinh điển Sthananga Sutra, trong kayotsarga, người thực hành đạt đến shukladhyan (thiền thanh tịnh). Thông thường thực hành Chaturvimsati-stava Āvaśyaka thông qua Logassa Sutra được tiến hành trong khi thực hiện kayotsarga.[55][57]
- Pratyākhyāna: Đây là thực hành cuối cùng trong sáu Āvaśyaka, bao gồm việc phát nguyện và tự giới hạn các hành động để tạo ra ít karma nhất có thể. Một cư sĩ phát nguyện pratyākhyāna trước khi bắt đầu các kỳ nhịn ăn. Tương tự, họ cũng phát nguyện để hạn chế việc tiêu thụ thực phẩm và các đối tượng vật chất khác nhằm tăng cường khả năng tự kiểm soát. Theo vị tirthankara thứ 24 là Mahavira trong Uttaradhyayana Sutra, linh hồn của một tín đồ được thanh lọc thông qua việc phát nguyện pratyākhyāna và từ bỏ một số hành động hoặc đối tượng nhất định trong một khoảng thời gian xác định.[55][57]
Jinpūjā và Caityavandan (Thờ tượng)
Kinh điển Śvetāmbara khẳng định rõ ràng việc thờ phụng các tượng tirthankara bởi tất cả các thành phần của Chaturvidha Sangha. Động cơ chính của việc thờ phụng này không phải là các lợi ích thế tục, mà là chiêm ngưỡng và noi theo những phẩm chất của các vị ấy.[59]
Phần lớn cư sĩ Śvetāmbara thực hiện việc thờ tượng theo ba hình thức chính:
- Aṅga Pūjā (thờ phụng bằng cách xức lên các bộ phận của tượng): Hình thức này được thực hiện bằng cách xức lên các phần khác nhau của tượng bằng nhiều loại phẩm vật cúng dường như nước, nghệ tây pha với gỗ đàn hương,[60] Vāsakṣepa (bột đàn hương), Yakṣakardama (một loại hương liệu thơm) v.v. Theo kinh điển, việc thờ phụng này chỉ được thực hiện bằng uttam dravya (các phẩm vật cúng dường thượng hạng và đôi khi có giá trị cao).

Các vị khất sĩ không được phép thực hiện kiểu thờ phụng này vì họ không sở hữu vật chất và đã từ bỏ chúng. Hơn nữa, những tổn hại có thể gây ra cho các sinh vật nhỏ trong quá trình thực hiện nghi lễ như vậy không phù hợp với giới luật khất sĩ. Đối với cư sĩ, kinh điển cho rằng công đức của việc thờ phụng (ca ngợi phẩm chất của các tirthankara và hướng tới trạng thái như các ngài) lớn hơn những bất lợi có thể phát sinh.
Một hình thức khác là Aṅga Rachanā hoặc Āṅgī, tức việc trang trí tượng thờ bằng các bộ giáp hoặc lớp trang sức mang tính nghệ thuật, được tạo thành từ đá quý, vải vóc và những vật phẩm nhiều màu sắc có nguồn gốc thanh tịnh và hợp đạo đức.[61]


- Agra Pūjā (thờ phụng tượng mà không tiếp xúc trực tiếp): Hình thức này được thực hiện bằng cách đặt lễ vật trước tượng rồi đọc các bài cầu nguyện bằng Prakrit hoặc Sanskrit, hay hát các thánh ca sùng kính. Các phẩm vật gồm có Dhūp (hương), Dīpa (đèn), Akṣata (gạo sống), Fal (trái cây) và Naivedya (bánh kẹo cúng). Mỗi vật phẩm đều có ý nghĩa riêng.
Năm phẩm vật trên, kết hợp cùng Jal Pūjā (tắm tượng bằng nước), Kesar Pūjā (xức hỗn hợp nghệ tây và đàn hương lên tượng) và Kusum Pūjā (dâng hoa lên các bộ phận của tượng), hợp thành nghi thức Aṣṭaprakāri Pūjā (Bát cúng dường). Các vị khất sĩ cũng không được thực hiện hình thức này vì những vật liệu sử dụng có thể gây tổn hại đến các sinh vật nhỏ, trong khi họ phải tuyệt đối tuân thủ Năm Đại Nguyện, mà bất hại là điều đầu tiên. Tuy nhiên, cư sĩ có thể thực hiện vì giới luật của họ không đòi hỏi phải thực hành bất hại ở mức độ vi tế như vậy.[62][63]

- Bhāva Pūjā (thờ phụng bằng tâm thái mà không sử dụng phẩm vật): Hình thức này bao gồm việc hát stavan và stuti (các bài thánh ca) tán dương cuộc đời và phẩm chất của một tirthankara. Một chuỗi các bài cầu nguyện bằng Prakrit và một số bài bằng Sanskrit nhằm tán dương một tirthankara trong các tư thế nhất định được gọi là Caityavandan.[64]
Caityavandan thường được thực hiện trong hai tư thế: Yogamudrā và Muktāśuktimudrā. Nghi lễ này còn bao gồm hai lần kayotsarga, ít nhất ba bài thánh ca và việc tụng đọc các bài kinh quan trọng như Namokar Mantra, Uvasaggaharam Stotra và Logassa Sutra. Đây được xem là hình thức Bhāva Pūjā tiêu chuẩn trong cộng đồng cư sĩ Śvetāmbara.
Người Digambara không có hình thức thờ phụng tượng như vậy. Vì Bhāva Pūjā không sử dụng phẩm vật vật chất nên các vị khất sĩ có thể thực hiện. Thực tế, rất nhiều bài thánh ca sùng kính do chính các tu sĩ Śvetāmbara sáng tác, vì thế tông phái này sở hữu một kho tàng văn học vô cùng phong phú về việc tán dương các tirthankara.[63]
Ngoài những hình thức trên còn có nhiều nghi lễ thờ phụng tượng khác. Một trong những nghi thức phổ biến nhất là Snātra Pūjā, một nghi lễ dài mô phỏng việc vị thiên thần Indra tắm lễ cho một tirthankara tại Mount Meru.[65][66]
Một nghi thức tắm lễ nổi tiếng khác là Śakrastava Abhiṣeka, được thực hiện đồng thời với việc tụng bài thánh ca cùng tên do Acharya Siddhasenadiwakarsuri sáng tác.[67][26]
Thông thường, việc thanh tẩy định kỳ cho các đền thờ và tượng thánh được thực hiện thông qua nghi lễ 18 Abhiṣeka, tức nghi thức tắm tượng bằng mười tám loại phẩm vật thượng hạng có hương thơm và giá trị sùng kính cao.[68]
Vyākhyāna và Guruvandan (Tương tác với các vị khất sĩ)
Chaturvidha Sangha có bốn trụ cột, và các śrāvaka cùng śrāvikā (cư sĩ) tiếp nhận tri thức về tôn giáo và thực hành tôn giáo từ hai trụ cột còn lại là các vị khất sĩ (tăng và ni).
Vyākhyāna là các bài thuyết giảng tôn giáo do các vị khất sĩ trình bày. Chính thông qua những bài giảng này mà Kỳ Na giáo được truyền bá đến các cư sĩ. Vì việc đọc kinh điển mà không có sự cho phép của vị thầy hướng dẫn được xem là một trọng tội, nên các cư sĩ tiếp nhận hầu như toàn bộ hiểu biết về tôn giáo, kinh điển, cũng như các trách nhiệm và bổn phận của mình thông qua các bài vyākhyāna do các vị khất sĩ giảng dạy. Do đó, mặc dù việc tham dự vyākhyāna không được kinh điển quy định là bắt buộc, các cư sĩ luôn được khuyến khích tham dự thường xuyên để học hỏi các nguyên lý của Kỳ Na giáo.[69]
Một nghi thức chính thức để chào đón vị thầy tâm linh bằng cách tụng hai bài kinh cổ bằng Prakrit là Icchakāra Sutra và Abbhuthio Sutra, cùng với bốn lần Khamāsamaṉa theo một trình tự nhất định, được gọi là Guruvandan. Thực hành Guruvandan chỉ được các cư sĩ thuộc tông Śvetāmbara thực hiện.
Các lễ hội tôn giáo
Có một số lễ hội chỉ được cử hành trong tông Śvetāmbara và không được công nhận hay tổ chức bởi tông Digambara. Sau đây là một số lễ hội như vậy:
Paryuṣaṇa
Đây là một trong những lễ hội Kỳ Na giáo phổ biến nhất. Lễ hội diễn ra trong nửa tháng trăng sáng của tháng Bhadrapada theo lịch âm Kỳ Na giáo. Trong lễ hội kéo dài tám ngày này, các cư sĩ tăng cường đời sống tâm linh và thực hành các hình thức nhịn ăn nghiêm ngặt. Một số người còn nhịn ăn trọn vẹn cả tám ngày, chỉ dùng nước đun sôi hoặc hoàn toàn không dùng gì cả (hình thức này được gọi là atthai).
Trong tám ngày này, các tăng sĩ và ni sư tụng đọc kinh điển chính thống thiêng liêng là Kalpa Sūtra. Phần lớn việc đọc tụng diễn ra riêng tư, ngoại trừ chương mô tả sự đản sinh của Mahavira, vốn theo truyền thống được đọc và cử hành công khai vào ngày thứ năm trong tám ngày lễ.
Ngày thứ tám được gọi là samvatsari và được xem là một trong những ngày linh thiêng nhất đối với các cư sĩ Śvetāmbara. Vào ngày này họ thực hiện pratikramana và cầu xin sự tha thứ cho mọi lỗi lầm đã phạm trong năm qua bằng cách nói "Michchhāmi Dukkaḍaṃ" với những người quen biết. Trong khi đó, người Digambara cử hành lễ Das Lakshana, kéo dài mười ngày và có mục đích khác với Paryuṣaṇa.[70]
Śāśvata Navpad Oli
Đây là một lễ hội kéo dài chín ngày, diễn ra hai lần mỗi năm: một lần vào tháng Chaitra và một lần vào tháng Ashvin theo âm lịch Kỳ Na giáo. Đây là một trong hai lễ hội lớn nhất theo kinh điển Śvetāmbara, lễ hội còn lại là Paryuṣaṇa.
Trong dịp này, người Śvetāmbara tôn kính chín thực thể tối thượng gồm:
Mỗi ngày được dành riêng để tôn kính một trong các thực thể trên.[71]
Kỳ Na giáo tin rằng chín thực thể này không do bất kỳ ai tạo ra và cũng không thể bị hủy diệt. Chúng tồn tại vĩnh hằng như những phạm trù (pada) truyền bá dharma. Do đó, người Śvetāmbara gọi lễ hội này là śāśvata, nghĩa là đã tồn tại từ vô thủy và sẽ tiếp tục tồn tại mãi mãi.
Trong suốt chín ngày này, các cư sĩ Śvetāmbara thực hành Ayambil, một hình thức chay tịnh trong đó không sử dụng dầu, các sản phẩm từ sữa hay gia vị. Hình thức này được tin là giúp tăng cường khả năng chế ngự vị giác.[72]
Họ cũng thờ phụng Siddhachakra trong thời gian này. Các thực hành tâm linh được tăng cường tương tự như trong lễ Paryuṣaṇa. Một trong những truyền thuyết nổi tiếng gắn liền với lễ hội là câu chuyện về Śrīpāla và Mayaṇasundarī.[73]
Mahavir Janma Kalyanak rơi vào ngày thứ bảy của kỳ Navpad Oli diễn ra trong tháng Chaitra. Mặc dù người Digambara cũng tin vào truyền thuyết Śrīpāla và Mayaṇasundarī, họ không thực hành Ayambil và các nghi thức của họ khác biệt đáng kể so với người Śvetāmbara.[74][75]
Jñāna Pañcamī
Lễ hội này được cử hành vào ngày thứ năm của nửa tháng trăng sáng trong tháng Kārtika theo âm lịch Kỳ Na giáo. Lễ hội được tổ chức nhằm tôn kính Samyak Jñāna (Chánh tri thức).
Các nghi thức bao gồm việc đến đền Kỳ Na giáo, đặt các vật tượng trưng cho tri thức (như bút, viết chì, giấy, sách vở v.v.) lên bàn thờ, rồi tôn kính chúng bằng Vāsakṣepa (bột đàn hương) và tụng các bài thánh ca ca ngợi nữ thần phụ trợ Saraswati.
Trong Kỳ Na giáo, tri thức vĩnh cửu về con đường dẫn đến moksha được lưu giữ trong lời dạy của các tirthankara, được gọi là jinvāṇī. Đây chính là điều mà Saraswati biểu trưng. Vì vậy, trong Kỳ Na giáo, bà không được thờ phụng theo cách của Ấn Độ giáo, mà được tôn kính như hiện thân của giáo pháp các tirthankara.
Kỳ Na giáo công nhận sự tồn tại của năm loại tri thức:
- Mati Jñāna
- Śrut Jñāna
- Avadhi Jñāna
- Manaḥparyaya Jñāna
- Kevala Jñāna
Tất cả các hình thức tri thức này đều được đặc biệt tôn kính và thờ phụng trong tông Śvetāmbara.
Các cư sĩ Śvetāmbara cũng thực hành khổ hạnh và nhịn ăn trong ngày lễ này. Nếu không thực hiện các kỳ chay tịnh nghiêm ngặt, đa số tín đồ ít nhất cũng kiêng ăn sau khi mặt trời lặn.[76]
Maun Ekādaśī
Lễ hội này được tổ chức vào ngày thứ mười một của nửa tháng trăng sáng trong tháng Maargashirsha theo âm lịch Kỳ Na giáo.
Theo truyền thuyết Śvetāmbara, nếu một tín đồ thực hành khổ hạnh bằng cách giữ im lặng vào ngày này mỗi năm trong suốt 11 năm và 11 tháng, người đó sẽ đạt được moksha. Từ maun có nghĩa là “im lặng”.
Một trong những hình thức khổ hạnh nổi bật nhất trong ngày này là không nói chuyện và không giao tiếp suốt cả ngày cho đến sáng hôm sau. Người ta tin rằng sự thực hành này giúp tăng cường khả năng kiểm soát tâm trí và lời nói.
Theo truyền thuyết Śvetāmbara, tổng cộng 150 kalyāṇaka thuộc panch kalyanaka của các tirthankara trong nửa chu kỳ thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai đều xảy ra trong chính ngày này. Vì vậy ngày này được xem là vô cùng cát tường và quan trọng trong tông Śvetāmbara.
Phần lớn cư sĩ chọn ngày này để bắt đầu các công việc mới, thờ phụng tượng các tirthankara và thực hành giới hạnh giữ im lặng. Nhiều truyền thuyết liên quan đến Neminatha, Krishna và Suvrat Shetha cũng gắn liền với ngày lễ này.[77][78]
Phālguṇa Pherī
Lễ hội này được cử hành vào ngày thứ mười ba của nửa tháng trăng sáng trong tháng Phalguna theo âm lịch Kỳ Na giáo và gắn trực tiếp với Palitana, một trong những thánh địa hành hương quan trọng nhất của người Śvetāmbara.
Theo truyền thuyết Śvetāmbara, các con trai của Krishna là Pradyumna và Shyaambh cùng với 8,5 crore (85 triệu) vị khất sĩ đã đạt được giải thoát tại Bhadva's Dungar trên đồi Palitana vào chính ngày này.
Hàng năm, số lượng lớn tín đồ Śvetāmbara hành hương đến Palitana và đi vòng quanh toàn bộ khu vực đồi thiêng trong một ngày duy nhất. Hành trình kéo dài khoảng 15–18 km trên địa hình đồi núi. Cuộc hành hương này còn được gọi là 6-Gau Yaatra (hành trình thăm sáu ngôi làng).[79]
Những người hành hương trước hết leo lên đồi đến cổng Ram Pol, sau đó đi theo một tuyến đường khác với tuyến đường thông thường. Tuyến đường này chỉ được mở duy nhất một ngày trong năm để tín đồ đi nhiễu quanh ngọn đồi thiêng.
Tuyến hành hương đưa người tham dự qua nhiều khu vực “ẩn” của quần thể Palitana, vốn không thể tiếp cận vào những ngày khác. Các địa điểm chính gồm:
- Đền thờ sáu người con của Devaki — Theo phiên bản Mahabharata của Kỳ Na giáo, trước khi sinh Krishna, Devaki đã sinh sáu người con khác. Sáu người con này được Neminatha truyền giới vào Jain sangha. Truyền thuyết kể rằng họ đều đạt giải thoát tại chính nơi ngôi đền này hiện tọa lạc.[80]
- Ulkā Jal Deri — Được tin là nơi nước dùng để tắm lễ tượng Rishabhanatha trong các nghi lễ được thu gom lại.[81]
- Chandan Talavdi — Theo truyền thuyết, hồ này được tạo lập bởi Chillan Muni, đệ tử của Ganadhar Pundarik Swami, người lại là một trong những đại đệ tử của Rishabhanatha. Người ta kể rằng ông đã dùng thần lực tạo nên hồ nước để giúp những người hành hương giải khát khi leo núi. Bờ hồ cũng rất linh thiêng vì nhiều tín đồ Śvetāmbara tin rằng vô số vị khất sĩ đã thực hành kayotsarga tại đây và đạt giải thoát. Nhiều tín đồ hiện nay vẫn thực hành kayotsarga và tụng Logassa tại địa điểm này.[80][81]
- Ajitnath - Shantinath Deri — Đây là hai điện thờ dành riêng cho vị Tirthankara thứ hai Ajitanatha và vị thứ mười sáu Shantinatha. Các đền này được xây dựng vì người ta tin rằng hai vị đã từng thuyết pháp tại khu vực này. Truyền thuyết kể rằng dưới thời vị tirthankara thứ 22 là Neminatha, hai điện thờ đứng đối diện nhau; khi người hành hương lễ bái tại điện này thì lại quay lưng về phía điện kia, điều vốn bị xem là bất kính đối với tượng tirthankara. Một vị khất sĩ tên Nandisena đã ngồi giữa hai điện thờ và sáng tác bài Ajit-Śānti Stava, trong đó các câu thơ xen kẽ ca ngợi Ajitanatha và Shantinatha.[82] Truyền thuyết nói rằng sau khi ông tụng xong bài thánh ca, hai điện thờ đã chuyển vị trí và đứng cạnh nhau. Ngày nay chúng vẫn tọa lạc sát bên nhau.[83][81]
- Siddhshila — Theo truyền thuyết, đây là nơi có số lượng linh hồn đạt moksha nhiều nhất trên toàn bộ đồi Palitana.[79][81]
- Bhadva's Dungar — Được tin là nơi các con trai của Krishna là Pradyumna và Shyaambh cùng với 8,5 crore (85 triệu) vị khất sĩ đạt được moksha. Địa điểm này được xem là nguồn cảm hứng chính cho toàn bộ cuộc hành hương dài 15–18 km.[79][81]
- Siddha Vad — Một cây đa cổ thụ. Truyền thuyết nói rằng rất nhiều linh hồn đã đạt được moksha khi tu tập khổ hạnh dưới gốc cây này.[79][81]
- Juni Taleti — Đây là điểm khởi đầu cổ xưa của con đường lên ngọn đồi chính. Cuộc hành hương Phālguṇa Pherī kết thúc tại địa điểm này.[79][81]
Dhvajā Mahotsava
Đây là tên gọi chung dành cho nhiều nghi lễ và lễ hội khác nhau được tổ chức tại các đền Kỳ Na giáo. Thuật ngữ này chỉ nghi thức thay lá cờ được treo trên śikhara (đỉnh cao nhất của công trình đền thờ) và được tổ chức hàng năm tại mỗi đền Kỳ Na giáo.
Một nghi thức phổ biến được thực hiện, trong đó các tín đồ đấu giá để giành quyền thay cờ. Người trả giá cao nhất sẽ thực hiện nghi lễ puja sùng kính theo quy định trong kinh điển và thay thế dhvaj (lá cờ) trên śikhara. Quyền thực hiện nghi thức này thường được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong cùng gia đình suốt đời.
Mỗi đền Kỳ Na giáo có một ngày riêng để tổ chức nghi lễ này và ngày đó thường trùng với ngày kỷ niệm của ngôi đền. Một buổi svāmi-vātsalya (bữa ăn cộng đồng) cũng được tổ chức như một phần của lễ hội.[84][85]
Akshaya Tritiya
Trong Kỳ Na giáo, Akshaya Tritiya là một lễ hội quan trọng vì nó kỷ niệm việc vị Tirthankara thứ nhất Rishabhanatha kết thúc kỳ nhịn ăn kéo dài 400 ngày bằng cách dùng nước mía được rót vào hai bàn tay chụm lại của ngài.
Người Kỳ Na giáo Śvetāmbara thực hành một hình thức khổ hạnh tương tự (nhưng ăn cách ngày) kéo dài 400 ngày. Thực hành này được gọi phổ biến là Varshitapa.[86]
Rishabhanatha đã từ bỏ các thú vui thế tục và trở thành một vị tu sĩ. Sau đó ngài nhịn ăn suốt 400 ngày. Ngài không nhận bất kỳ thức ăn nào từ các cư sĩ bởi vì mỗi lần được dâng cúng, thức ăn đó đều chưa đạt tiêu chuẩn “không có lỗi” để một tu sĩ Kỳ Na giáo có thể thọ nhận.
Bốn mươi hai loại lỗi mà thực phẩm dành cho tu sĩ Kỳ Na giáo có thể mắc phải được trình bày rất chi tiết trong văn bản Śvetāmbara cổ Ācārāṅga Sūtra.[87]
Các truyền thống Sthanakvasi và Terapanthi (Vô tượng)
Một bộ phận thiểu số trong cộng đồng Śvetāmbara đã tách thành những truyền thống khác, trong đó hoặc các đền thờ và hội trường Kỳ Na giáo vẫn được xây dựng nhưng việc puja chỉ đóng vai trò thứ yếu, hoặc toàn bộ việc xây dựng và sử dụng đền thờ, tượng ảnh và thần tượng đều bị phản đối và tránh né. Những truyền thống phụ này xuất hiện trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII và không được các tu sĩ cùng kinh điển Śvetāmbara chính thống xem là xác thực.[14]
Người cư sĩ phản đối việc sùng kính đền thờ, tượng ảnh và thần tượng là Lonka Shah (khoảng năm 1476 CN), người được xem là người khởi xướng truyền thống phụ Sthānakavāsī.
Bhikshu ban đầu được truyền giới như một tu sĩ Sthānakavāsī, nhưng ông cho rằng giáo lý của truyền thống này có nhiều điểm không phù hợp. Vì vậy, sau khi phê phán các quan điểm của phái Sthanakvasi, ông đã sáng lập truyền thống phụ Terapanth.[88][89]
Một số học giả thời thuộc địa cùng các tác giả Kỳ Na giáo đầu thế kỷ XX, như Malvaniya, từng giả thuyết rằng phong trào phản đối việc thờ tượng này chịu ảnh hưởng từ Hồi giáo. Tuy nhiên, các nghiên cứu sau này kết luận rằng các truyền thống phụ này phát sinh từ các cuộc tranh luận nội bộ của Kỳ Na giáo liên quan đến nguyên tắc Ahimsa (bất bạo động).[14][90]
Các truyền thống mới này chỉ chấp nhận 32 trong số 45 kinh điển của bộ giáo điển Śvetāmbara nguyên thủy. Trong 32 kinh được chấp nhận, nhiều phần đã bị sửa đổi và phần lớn hệ thống kinh điển của họ khác biệt đáng kể so với bộ kinh điển nguyên thủy được duy trì bởi tông murtipujaka, tức truyền thống lâu đời nhất.[89]
Những truyền thống phụ này không được tông Śvetāmbara thờ tượng (murtipujaka) công nhận. Theo quan điểm của họ, các truyền thống mới được hình thành do sự diễn giải sai nghiêm trọng các kinh điển chính thống.[91]
Người Śvetāmbara murtipujaka không cho phép cư sĩ tự đọc kinh điển vì họ cho rằng việc hiểu sai giáo pháp là một trọng tội. Trong khi đó, các truyền thống mới công khai toàn bộ kinh điển của mình cho mọi người tiếp cận. Cả hai truyền thống mới này lại tiếp tục phân chia thành nhiều nhánh khác nhau, vốn bất đồng trên nhiều khía cạnh của giáo điển do việc tiếp cận tự do dẫn đến những cách diễn giải khác nhau.[92]
Shri Jain Shwetambar Conference
Shri Jain Shwetambar Conference (Gujarati: શ્રી જૈન શ્વેતાંબર પરિષદ), chính thức được thành lập vào năm 1902, là một tổ chức cải cách cộng đồng và văn hóa quan trọng trong tông Shwetambar Murtipujak của Kỳ Na giáo.
Tổ chức này xuất hiện trong bối cảnh những biến đổi xã hội và tôn giáo mạnh mẽ ở Ấn Độ cuối thế kỷ XIX, chịu ảnh hưởng từ các phong trào cải cách rộng lớn hơn và từ mong muốn của cộng đồng Kỳ Na giáo trong việc tổ chức lại sinh hoạt tập thể nhằm nâng cao đời sống xã hội và tôn giáo của mình.[93][94]
Nguồn gốc và sự hình thành (1893–1902)
Ý tưởng thành lập hội nghị xuất hiện từ năm 1893 dưới ảnh hưởng của nhà cải cách và tu sĩ Kỳ Na giáo Acharya Vijayanandsuri (còn được gọi là Atmaramji), với sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo cư sĩ như Gulabchandji Dhaddha và Kunwarji Anandji. Cuộc họp không chính thức đầu tiên được tổ chức tại Ahmedabad cùng năm, nhưng những bất đồng quan điểm đã khiến việc chính thức hóa tổ chức bị trì hoãn. Mười năm sau, vào năm 1902, kỳ họp chính thức đầu tiên được tổ chức tại Phalodi, Rajasthan, đánh dấu sự ra đời chính thức của Hội nghị.[93][95]
Mục tiêu và phạm vi hoạt động
Hội nghị hướng tới việc hiện đại hóa xã hội Kỳ Na giáo trong khi vẫn duy trì các thực hành tôn giáo cốt lõi. Các mục tiêu của tổ chức bao gồm:
- Thúc đẩy giáo dục, đặc biệt đối với thanh thiếu niên và phụ nữ.
- Trùng tu các đền thờ và thánh địa hành hương.
- Khôi phục các kinh điển Kỳ Na giáo cổ (Granthaoddhar).
- Hạn chế các tập tục xã hội bị xem là có hại như tảo hôn và các yến tiệc xa hoa.
- Bảo tồn truyền thống thờ tượng vốn giữ vai trò trung tâm trong tông Murtipujak.[93][96]
Hoạt động và các cột mốc quan trọng
Từ năm 1902 đến thập niên 1950, Hội nghị tổ chức các kỳ họp quy mô lớn hàng năm hoặc hai năm một lần tại nhiều thành phố như Mumbai, Baroda, Patan và Bhavnagar.
Những nghị quyết đáng chú ý bao gồm:
- Thúc đẩy giáo dục bằng ngôn ngữ bản địa và giảng dạy triết học Kỳ Na giáo.
- Vận động bảo tồn các thánh địa (Tirtha Raksha) và gìn giữ các bản thủ bản cổ.
- Các cải cách đạo đức như phản đối của hồi môn, chế độ đa thê và các nghi lễ lãng phí.
- Các chiến dịch bảo vệ những thánh địa quan trọng như núi Shatrunjaya và quần thể đền Dilwara.
Hội nghị lần thứ 9 tại Sujangadh (1915) đặc biệt nổi tiếng vì đã thông qua 15 nghị quyết liên quan đến cải cách xã hội, giáo dục, phúc lợi động vật và quản lý đền thờ.[94][95]
Hội nghị cũng xuất bản tạp chí tiếng Anh hàng tháng Jain Shwetambar Conference Herald và sau đó là tạp chí Jain Yug, ghi lại các hoạt động của hội nghị cũng như các thảo luận học thuật liên quan đến Kỳ Na giáo.[93][97]
Ảnh hưởng về mặt tổ chức
Hội nghị đóng vai trò then chốt trong việc thành lập và hỗ trợ:
- Các hội đồng giáo dục và trường gurukul Kỳ Na giáo.
- Các thư viện tôn giáo và ký túc xá (ví dụ: Mahavir Jain Vidyalayas).
- Các quỹ tín thác quản lý đền thờ và các ủy ban cải cách tôn giáo.
- Các tổ chức dành cho phụ nữ và thanh niên trong cộng đồng.
Thông qua việc xây dựng mô hình lãnh đạo cư sĩ mang tính dân chủ và có tổ chức, Hội nghị đã góp phần quan trọng vào quá trình hiện đại hóa đời sống dân sự của cộng đồng Kỳ Na giáo.[94]</ref>
Khác biệt với Digambara
Ngoài việc chấp nhận hoặc bác bỏ các văn bản Kỳ Na giáo cổ khác nhau, Digambara và Śvetāmbara còn có nhiều khác biệt quan trọng khác như sau:
- Người Śvetāmbara tin rằng Parshvanatha, tirthankara thứ 23, chỉ giảng dạy Bốn điều kiêng giữ (một quan điểm mà các học giả cho rằng được xác nhận bởi các văn bản Phật giáo cổ đề cập đến đời sống tu trì Kỳ Na giáo). Trong khi đó, Mahāvīra giảng dạy Năm đại nguyện.[98][99][100] Tông Digambara không đồng ý với cách diễn giải của Śvetāmbara,[101] và bác bỏ thuyết cho rằng giáo lý của Parshvanatha và Mahāvīra có sự khác biệt.[99] Tuy nhiên, cả Digambara và Śvetāmbara đều thực hành Năm đại nguyện do Mahavira truyền dạy. Điểm khác biệt chỉ nằm ở niềm tin của Śvetāmbara rằng Parshvanatha đã giảng dạy ít hơn một giới nguyện (bốn giới, không bao gồm Brahmacharya) so với Mahavira. Tuy nhiên, các tu sĩ thuộc tông Śvetāmbara vẫn thực hành đầy đủ cả năm giới như được nêu trong Ācārāṅga Sūtra.[102]
- Digambara tin rằng cả Parshvanatha và Mahāvīra đều sống độc thân suốt đời, trong khi Śvetāmbara tin rằng các vị Tirthankara thứ 23 và 24 thực sự đã kết hôn. Theo truyền thống Śvetāmbara, Parshvanātha kết hôn với Prabhavati,[103] còn Mahāvīraswāmi kết hôn với Yashoda, người sinh cho ông một người con gái tên Priyadarshana.[104][105] Hai tông phái cũng bất đồng về xuất thân của Trishala, mẹ của Mahāvīra,[104] cũng như nhiều chi tiết trong tiểu sử các Tirthankara, chẳng hạn số lượng giấc mộng cát tường mà mẹ các ngài nhìn thấy khi mang thai. Digambara cho rằng có 16 giấc mộng, trong khi Śvetāmbara cho rằng có 14 giấc mộng.[106]
- Người Śvetāmbara sở hữu một hệ thống kinh điển đầy đủ và phong phú hơn, với một bộ kinh điển chính thống chứa lượng thông tin rất lớn, được bổ sung bởi kho văn học phi chính thống đồ sộ. Văn học Digambara ít hơn đáng kể về số lượng và các kinh điển hiện còn của họ cũng có niên đại muộn hơn so với kinh điển Śvetāmbara.[107]
- Śvetāmbara tin rằng kinh điển Kỳ Na giáo nguyên thủy vẫn được bảo tồn, trong khi Digambara tin rằng toàn bộ kinh điển này đã thất truyền khoảng 200 năm sau khi Mahāvīra nhập niết-bàn.[107] Người Śvetāmbara cũng có một nền văn học phi chính thống phong phú hơn nhiều.[108]
- Digambara tin rằng Rishabha, Vasupujya và Neminatha là ba vị tirthankara đạt được toàn tri trong tư thế ngồi, còn các vị khác đạt được toàn tri khi đang đứng trong tư thế khổ hạnh. Trái lại, người Śvetāmbara tin rằng ba vị đạt toàn tri trong tư thế ngồi là Rishabha, Nemi và Mahāvīra.[109]
- Theo các văn bản Kỳ Na giáo Śvetāmbara, từ thời Rishabhanatha cho đến nay, cộng đồng xuất gia của họ luôn có số lượng sadhvi nhiều hơn sadhu (ni nhiều hơn tăng). Trong Tapa Gacch hiện đại, tỷ lệ sadhvi so với sadhu (ni so với tăng) vào khoảng 3,5 : 1.[110] Trái lại, cộng đồng xuất gia Digambara chủ yếu là nam giới.[111]
- Trong truyền thống Digambara, nam giới được xem là gần với đỉnh cao tâm linh nhất và có khả năng giải thoát khỏi vòng tái sinh thông qua đời sống khổ hạnh. Phụ nữ phải tích lũy công đức, được tái sinh làm nam giới trước, rồi mới có thể đạt giải thoát tâm linh theo quan điểm Digambara.[112][113] Người Śvetāmbara hoàn toàn không đồng ý với quan điểm này và tin rằng phụ nữ cũng có thể đạt giải thoát khỏi saṃsāra bằng con đường tu khổ hạnh.[113][114]
- Người Śvetāmbara khẳng định rằng vị Tirthankara thứ 19 là Māllīnātha thuộc giới nữ.[115] Tuy nhiên, Digambara bác bỏ quan điểm này và tôn thờ Mallinatha như một nhân vật nam.[116]
Xem thêm
Tham khảo
Trích dẫn
- ^ Dundas 2002, tr. 45.
- ^ Dundas 2002, tr. 53–59, 64–80, 286–287 with footnotes 21 and 32.
- ^ Wiley 2009, tr. 83–84.
- ^ a b Jain & Fischer 1978, tr. 1–2, 8–9, xxxiv–xxxv.
- ^ Long 2013, tr. 60–61.
- ^ Long 2013, tr. 20.
- ^ a b c Jainworld. "Visheshavashyak Bhashya". Jainworld (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ^ Dundas, Paul (ngày 2 tháng 9 năm 2003). The Jains (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 46. ISBN 978-1-134-50165-6.
- ^ Singhi, Narendra Kumar (1987). Ideal, Ideology & Practice: Studies in Jainism (bằng tiếng Anh). Printwell Publishers. ISBN 978-81-7044-042-0.
- ^ Hastings, James; Selbie, John Alexander (1922). Encyclopaedia of Religion and Ethics: Suffering-Zwingli (bằng tiếng Anh). T. & T. Clark. ISBN 978-0-567-06509-4.
- ^ "Jaina Sutras, Part I (SBE22): Lives of the Ginas: List of the Sthaviras". sacred-texts.com. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b Glasenapp, Helmuth von (1999). Jainism: An Indian Religion of Salvation (bằng tiếng Anh). Motilal Banarsidass Publ. ISBN 978-81-208-1376-2.
- ^ Indian Antiquary: A Journal of Oriental Research, Vol-19, Issue no.-January–December. tr. 233–242.
- ^ a b c d Long 2013, tr. 20–22.
- ^ Wiley 2009, tr. 88.
- ^ "Jaina Sutras, Part I (SBE22): Contents". sacred-texts.com. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b www.wisdomlib.org (ngày 17 tháng 9 năm 2017). "Trishashti Shalaka Purusha Caritra". www.wisdomlib.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ^ "The Great Accomplishment of the Past Century ABHIDHAN RAJENDRA KOSH - Jainavenue" (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ^ Stevenson, Margaret (1915). The Heart of Jainism. London: Oxford University Press. tr. 13. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2023.
- ^ Sarkar, Benoy Kumar (1916). The Beginning of Hindu Culture as World-power (A.D. 300–600). Shanghai: Commercial Press. tr. 29. OCLC 613143923. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2023.
- ^ Jain, Sagarmal (1998). Jain Literature [From earliest time to c. 10th A.D.], Aspects of Jainology: Volume VI. tr. 4.
- ^ a b Mahopadhyay Yashovijaya Ji (1958). Gyan Saar.
- ^ Jacobi, Hermann. "Vimalsuri's Paumachariyam Part 1". jainqq.org. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ^ Jacobi, Hermann. "Vimalsuri's Paumachariyam Part 2". jainqq.org. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b Siddhasena Divakarsuri, Acharya. "Shri Kalyan Mandir Stotra". jainqq.org. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b c Siddhasena Divakarasuri, Acharya. "Shri Vardhman Shakrastav Stotra". jainqq.org. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b Hemachandrasuri, Acharya. "Shri Sakalarhat Stotra". jainqq.org. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ^ Rajendrasuri, Acharya. "Abhidhānarājaindrakōśa". jainqq.org. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ^ Hemachandracharya (1934). Shri Siddha Hemachandra Shabdanushashanam (sanskrit Grammar).
- ^ Singh, Karan (ngày 15 tháng 1 năm 2016). A Treasury of Indian Wisdom: An Anthology of Spiritual Learning (bằng tiếng Anh). Penguin UK. ISBN 978-81-8475-303-5.
- ^ a b America (YJA), Young Jains of (ngày 23 tháng 2 năm 2024). "What is Jain Diksha and what does it entail?". Medium (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2024.
- ^ Cort, John E. (2001). Jains in the World: Religious Values and Ideology in India. New York: Oxford University Press. tr. 61–99. ISBN 978-0-19-513234-2.
- ^ Hegewald, Julia A. B. (2015). "The International Jaina Style? Māru-Gurjara Temples Under the Solaṅkīs, throughout India and in the Diaspora". Ars Orientalis. 45: 180–199.
- ^ Cort, John E. (2010). Framing the Jina: Narratives of Icons and Idols in Jain History. New York: Oxford University Press. tr. 113–154. ISBN 978-0-19-538502-1.
- ^ Hegewald, Julia A. B. (2002). "Aspects of Jaina Temple Architecture in Rajasthan and Karnataka". South Asia Research. 22 (2): 107–129. doi:10.1177/026272800202200201.
- ^ Shah, Umakant Premanand (1987). Jaina-Rūpa-Maṇḍana: Jaina Iconography. Quyển 1. New Delhi: Abhinav Publications. ISBN 978-81-7017-208-6.
- ^ Dundas, Paul (2002). The Jains (ấn bản thứ 2). London: Routledge. ISBN 978-0-415-26605-5.
- ^ Cort, John E. (2010). Framing the Jina: Narratives of Icons and Idols in Jain History. New York: Oxford University Press. tr. 155–216. ISBN 978-0-19-538502-1.
- ^ Cort, John E. (2010). Framing the Jina: Narratives of Icons and Idols in Jain History. New York: Oxford University Press. tr. 3–16, 113–216. ISBN 978-0-19-538502-1.
- ^ Cort, John E. (2010). Framing the Jina: Narratives of Icons and Idols in Jain History. New York: Oxford University Press. tr. 3–16, 217–246. ISBN 978-0-19-538502-1.
- ^ Dundas, Paul (2002). The Jains (ấn bản thứ 2). London: Routledge. ISBN 978-0-415-26605-5.Cort, John E. (2010). Framing the Jina: Narratives of Icons and Idols in Jain History. New York: Oxford University Press. tr. 217–272. ISBN 978-0-19-538502-1.
- ^ "Jaina Sutras, Part I (SBE22): Âkârâṅga Sûtra: Book II, Lecture 7, Lesson 1". sacred-texts.com. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2024.
- ^ Quintanilla 2007, tr. 174–176.
- ^ Jaini & Goldman 2018, tr. 42–45.
- ^ "Jaina Sutras, Part I (SBE22): Âkârâṅga Sûtra: Book II, Lecture 1, Lesson 1". sacred-texts.com. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Jainacharya Hansaratna Suri Marharaj's 180-Day Record Fast Concludes in Mumbai". Lokmat Times (bằng tiếng Anh). Lokmat Media Limited. ngày 31 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ "In rare feat, 16-year-old Jain girl completes 110-day fast". The Times of India. ngày 29 tháng 10 năm 2023. ISSN 0971-8257. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Jaina Sutras, Part I (SBE22): Âkârâṅga Sûtra: Book II, Lecture 3, Lesson 1". sacred-texts.com. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2024.
- ^ Anand Ghan Ji (1950). Shri Anand Ghan Chovisi.
- ^ "The Vratas (Vows) of Householders - JAINA-JainLink". www.jaina.org. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ Shah, Jay (ngày 27 tháng 11 năm 2023). "6 Internal Austerities (Abhyantar Tap) in Jainism". Medium (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ Shah, Pravin K. "Anjan Shalaka Pran Pratistha Ceremony Shwetambar Sect". jainqq.org. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ "India Jains: Why are these youngsters renouncing the world?" (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b c Muni, Malaykirtivijay. "Samkit Mul 12 Vrat 124 Atichar". jainqq.org. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b c d e f "Jaina Sutras, Part II (SBE45): Uttarâdhyayana: Twenty-Ninth Lecture. The Exertion in Righteousness". sacred-texts.com. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b "Concept of Six Essentials – Sadh Avashyaka - Jainavenue" (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b c d e "Chapter 28 – Six Essentials (Ävashyaka) – The Jainsite World's Largest Jain Website" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2024.
- ^ www.wisdomlib.org (ngày 19 tháng 8 năm 2023). "Six Avasyakas (essentials)". www.wisdomlib.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2024.
- ^ Jainworld. "Worship". Jainworld (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
- ^ "How to do Puja – Jain Society Of Greater Cleveland" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Jain Festival: Dressing up the gods and goddess". nytraditions.org. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “NY Living Traditions” (trợ giúp) - ^ Patani, Ashish. "What is Ashta Prakari Puja?" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “Oshwal Association of the U.K.” (trợ giúp) - ^ a b www.wisdomlib.org (ngày 19 tháng 8 năm 2023). "Ten rituals of the Temple". www.wisdomlib.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
- ^ "YJA". www.yja.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “Temple Handouts” (trợ giúp) - ^ "Snatra Puja". Jain Sangh of Greater Austin (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Snatra Puja – Jain Samaj of Long Island" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
- ^ "The divine moments of Shakrastav Abhishek at Kshatriyakund Tirth" (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
- ^ Arvindsagar Maharaj, Muni. "Shri Adhaar Abhishek Vidhi" (PDF).
- ^ America (YJA), Young Jains of (ngày 14 tháng 9 năm 2018). "Experiences with Paryushan and Das Lakshan". Medium (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Paryushan 2023: Date, Rituals and Significance of Jain Festival". The Times of India. ngày 19 tháng 9 năm 2023. ISSN 0971-8257. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ "YJA". www.yja.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “Navpad Oli” (trợ giúp) - ^ "JAINA Newsletter:Importance of Navpad Oli, Ayambil Story, Veerayatan's Eye Campy etc… - JAINA-JainLink". www.jaina.org. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ Vinayvijay, Upadhyay; Yashovijay, Upadhyay. "Shripaal Rajano Raas". jainqq.org. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ America (YJA), Young Jains of (ngày 11 tháng 4 năm 2022). "Navpad Oli". Medium (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Navpad Oli - [Nine Elements] (also called Ayambil Oli)". Jain Sangh of Greater Austin (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ Shah, Shobha. "Shri Gyan Panchami" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2024.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “Oshwal Association of the U.K.” (trợ giúp) - ^ "Maun Ekadashi". Tattva Gyan. ngày 6 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2024.
- ^ Shah, Pulinbhai R. "Maun Ekadashi Vrat Katha". jainqq.org. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b c d e America (YJA), Young Jains of (ngày 24 tháng 3 năm 2019). "Chha Gaun Yatra — A Hidden Journey". Medium (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b "The "99fold" Pilgrimage to Shatrunjaya @ HereNow4U". HereNow4U: Portal on Jainism and next level consciousness (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b c d e f g Gunratnasuri, Acharya. "Spiritual Pilgrimmage of Chha Gau". jainqq.org. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2024.
- ^ Muni, Nandisena. "Ajit-Shanti Stotra". jainqq.org. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Palitana - Jain Treasures" (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ^ Muni, Deepratnasagar. "Dhwaja Pujani Vidhi ane Samagri". jainqq.org. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2024.
- ^ Mehta, Arvind K. "Adhar Abhishek evam Dhwajaropan Vidhi". jainqq.org. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2024.
- ^ Prakash ‘Babloo’, Dr Ravi (ngày 11 tháng 9 năm 2021). Indian Philosophy and Religion (bằng tiếng Anh). K.K. Publications.
- ^ "Jaina Sutras, Part I (SBE22): Âkârâṅga Sûtra: Book II, Lecture 1, Lesson 1". sacred-texts.com. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2024.
- ^ Dundas 2002, tr. 254.
- ^ a b Narendra Singh 2001, tr. 5184.
- ^ Dundas 2002, tr. 246–249.
- ^ Vallely 2002, tr. 59.
- ^ Shashi 1996, tr. 945.
- ^ a b c d Makatai, Nagkumar (1960). Shri Jain Shwetambar Conferenceno Itihas (Gujarati). Shri Jain Shwetambar Conference Publication.
- ^ a b c Cort, John E. (2001). Jains in the World: Religious Values and Ideology in India. Oxford University Press.
- ^ a b Cort, John E. (2002). “Conferences Inspired Reforms,” Jain Spirit, Issue 12.
- ^ "Jainism Enters the Modern Age." Jainworld. https://www.jainworld.com/jainbooks/jainism-enters-the-modern-age/
- ^ Jain Yug Magazine Archives (1930s–1950s). Jain Library. https://jainelibrary.org
- ^ Jones & Ryan 2007, tr. 211.
- ^ a b Umakant P. Shah 1987, tr. 5.
- ^ Dundas 2002, tr. 31–33.
- ^ Jaini 2000, tr. 27–28.
- ^ "Jaina Sutras, Part I (SBE22): Contents". sacred-texts.com. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2024.
- ^ Kailash Chand Jain 1991, tr. 12.
- ^ a b Natubhai Shah 2004, tr. 73–74.
- ^ Dundas 2002, tr. 21.
- ^ Umakant P. Shah 1987, tr. 17.
- ^ a b "Jain Agama Literature". www.cs.colostate.edu. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Religious Knowledge and Stavan Collecting". academic.oup.com. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2024.
- ^ Umakant P. Shah 1987, tr. 79–80.
- ^ Cort 2001a, tr. 47.
- ^ Flügel 2006, tr. 314–331, 353–361.
- ^ Long 2013, tr. 36–37.
- ^ a b Harvey 2016, tr. 182–183.
- ^ Dundas 2002, tr. 55–59.
- ^ Vallely 2002, tr. 15.
- ^ Dundas 2002, tr. 56.
Nguồn
- Cort, John E. (2001a), Jains in the World : Religious Values and Ideology in India, Oxford University Press, ISBN 978-0-19-513234-2
- Dalal, Roshen (2010a) [2006], The Religions of India: A Concise Guide to Nine Major Faiths, Penguin books, ISBN 978-0-14-341517-6
- Dundas, Paul (2002) [1992], The Jains , Routledge, ISBN 0-415-26605-X
- Flügel, Peter (2006), Studies in Jaina History and Culture: Disputes and Dialogues, Routledge, ISBN 978-1-134-23552-0
- Harvey, Graham (2016), Religions in Focus: New Approaches to Tradition and Contemporary Practices, Routledge, ISBN 978-1-134-93690-8
- Jain, Jyotindra; Fischer, Eberhard (1978), Jaina Iconography, BRILL Academic, ISBN 90-04-05259-3
- Jain, Kailash Chand (1991), Lord Mahāvīra and His Times, Motilal Banarsidass, ISBN 978-81-208-0805-8
- Jaini, Padmanabh S., biên tập (2000), Collected Papers On Jaina Studies , Delhi: Motilal Banarsidass, ISBN 978-81-208-1691-6
- Jaini, Padmanabh S.; Goldman, Robert (2018), Gender and Salvation: Jaina Debates on the Spiritual Liberation of Women, University of California Press, ISBN 978-0-520-30296-9
- Jones, Constance; Ryan, James D. (2007), Encyclopedia of Hinduism, Infobase Publishing, ISBN 978-0-8160-5458-9
- Long, Jeffery D. (2013), Jainism: An Introduction, I.B. Tauris, ISBN 978-0-85771-392-6
- Quintanilla, Sonya Rhie (2007), History of Early Stone Sculpture at Mathura: Ca. 150 BCE - 100 CE (bằng tiếng Anh), BRILL, ISBN 9789004155374
- Sangave, Vilas Adinath (1980), Jain Community: A Social Survey (ấn bản thứ 2), Bombay: Popular Prakashan, ISBN 978-0-317-12346-3
- Shah, Natubhai (2004) [First published in 1998], Jainism: The World of Conquerors, quyển I, Motilal Banarsidass, ISBN 978-81-208-1938-2
- Shah, Umakant Premanand (1987), Jaina-rūpa-maṇḍana: Jaina iconography, Abhinav Publications, ISBN 978-81-7017-208-6
- Shashi, S. S. (1996), Encyclopaedia Indica: India, Pakistan, Bangladesh. Origin and development of Indus civilization, quyển 1, Anmol Publications, ISBN 81-7041-859-3
- Singh, Narendra (2001), "Acahrya Bhikshu and Terapanth", Encyclopaedia of Jainism, Anmol Publications, ISBN 81-261-0691-3
- Vallely, Anne (2002), Guardians of the Transcendent: An Ethnology of a Jain Ascetic Community, University of Toronto Press, ISBN 978-0-8020-8415-6
- Vyas, Dr. R. T., biên tập (1995), Studies in Jaina Art and Iconography and Allied Subjects, The Director, Oriental Institute, on behalf of the Registrar, M.S. University of Baroda, Vadodara, ISBN 81-7017-316-7
- Wiley, Kristi L. (2009), The A to Z of Jainism, Scarecrow, ISBN 978-0-8108-6821-2
Liên kết ngoài
Tư liệu liên quan tới Śvetāmbara tại Wikimedia Commons
Content Disclaimer
Informasi ini disarikan dari Wikipedia dan disajikan kembali untuk tujuan edukasi. Konten tersedia di bawah lisensi CC BY-SA 3.0. Kami tidak bertanggung jawab atas ketidakakuratan data yang bersumber dari kontribusi publik tersebut.
- The information displayed on this website is sourced in part or in whole from Wikipedia and has been adapted for the purpose of restating it. We strive to provide accurate and relevant information, however:
- There is no guarantee of absolute accuracy. Wikipedia is an open, collaborative project that can be edited by anyone, so information is subject to change.
- It is not intended to constitute professional advice. The content displayed is for informational and educational purposes only. For important decisions (e.g., medical, legal, or financial), please consult a professional.
- Content copyright. Wikipedia is licensed under the Creative Commons Attribution-ShareAlike License (CC BY-SA). This means that content may be reused with appropriate attribution and shared under a similar license.
- Responsible use. Any risk arising from the use of information from this website is entirely the responsibility of the user.









